QUẢN LÝ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT NGHỀ


Dịch giả: Nguyễn Thu Nhàn - Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tác giả: Richard Barker (r.barker@jbs.cam.ac.uk) – Giáo sư tại Trường kinh doanh Judge của Đại học Cambridge, Anh Quốc, giám đốc chương trình MBA từ năm 2003 đến năm 2008

Richard Baker hiện là giáo sư tại Trường kinh doanh Judge của Đại học Cambridge, Anh Quốc, đồng thời là giám đốc chương trình MBA từ năm 2003 đến năm 2008. Trong bài viết “No, management is not a profession” (Tạm dịch: Quản lý không phải một nghề), ông Baker đã bày tỏ quan điểm về khái niệm nghề nghiệp chuyên môn và dựa vào đó, ông chứng minh luận điểm của mình: quản lý không phải một nghề.
Vậy thế nào là nghề nghiệp chuyên môn? Theo Richard Barker, chúng ta tìm đến những cá nhân làm nghề nghiệp chuyên môn để được tư vấn và giúp đỡ khi làm một việc gì đó bởi họ có những kiến thức và kĩ năng mà chúng ta không có để làm những việc này. Chẳng hạn, chúng ta tìm đến bác sĩ bởi bác sĩ có thể đề xuất phương pháp điều trị bệnh, hay chúng ta tìm đến luật sư để có những lời khuyên pháp lý. Tuy nhiên, chất lượng tư vấn của những người làm nghề nghiệp chuyên môn có đáng tin cậy hay không cũng là một vấn đề đáng quan tâm. Điều này đòi hỏi sự tồn tại của các cơ quan chuyên môn, với vai trò điều tiết, củng cố niềm tin của khách hàng vào đội ngũ cố vấn, từ đó tạo nên thị trường dịch vụ chuyên nghiệp. Yêu cầu đối với hoạt động của những cơ quan này trong bất kỳ lĩnh vực nào bao gồm việc xác định được giới hạn của lĩnh vực và giới hạn kiến thức cho lĩnh vực đó, đồng thời phải có sự đồng nhất giữa lĩnh vực và kiến thức được đề cập đến. Các cơ quan chuyên môn giữ một vị trí đáng tin cậy bởi họ là những người duy trì và đảm bảo chất lượng nghề nghiệp trong xã hội.
Quản lý không phải một nghề, bởi, theo tác giả, khác với khái niệm về nghề nghiệp chuyên môn như trên, quản lý không có giới hạn về kiến thức lẫn sự thống nhất trong kiến thức được đề cập, không có cơ quan chuyên môn nào chịu trách nhiệm, không có bằng cấp chính thức, cũng không có tiêu chuẩn đạo đức nào được áp dụng. Cụ thể hơn, ông Barker đưa ra ba trường hợp điển hình, so sánh giữa người quản lý và các cá nhân làm nghề nghiệp chuyên môn, để chứng minh khẳng định của mình.
Trường hợp 1, khi làm hợp đồng kinh doanh hay giao dịch. Ở trường hợp này, người làm nghề chuyên môn (luật sư) phải áp dụng những kĩ năng chuyên môn để soạn thảo bản hợp đồng; người này có thể được gọi là chuyên gia. Trong khi đó, người quản lý lại chịu trách nhiệm về những thay đổi trong bản hợp đồng, hay nói cách khác, chịu trách nhiệm cho nhiều vấn đề mà không chuyên sâu về một lĩnh vực như luật sư. Điều này rõ ràng ngược lại với khái niệm nghề nghiệp chuyên môn.
Trường hợp 2, tác giả cũng so sánh người quản lý với một người làm nghề luật sư. Trong khi luật sư soạn thảo hợp đồng, được tính công theo số giờ làm và công việc có giới hạn nhất định, thì công việc của người quản lý lại không bao giờ dứt điểm hoàn toàn, bởi người quản lý luôn phải chịu trách nhiệm về các ảnh hưởng tạo ra bởi các yếu tố đầu vào với công ty.
Và trường hợp 3, khi so sánh với người làm nghề nghiệp chuyên môn trong ngành y, có thể thấy, trong y tế, người chưa qua đào tạo thì không thể tiến hành phẫu thuật não. Nhưng, trong kinh doanh, người quản lý có thể điều hành được công ty không nhất thiết phải là người có bằng MBA.
Những sự khác biệt căn bản giữa người làm nghề nghiệp chuyên môn và người quản lý trên đây cũng gián tiếp cho thấy sự khác biệt giữa giáo dục kinh doanh và giáo dục nghề nghiệp. Tuy đều bao gồm ba giai đoạn: nhập học, chương trình học và đánh giá, giữa hai mô hình giáo dục có những sự khác nhau nhất định.
Ở giai đoạn 1, nhập học, giáo dục nghề nghiệp đào tạo sinh viên mới nhập học bao gồm những người có rất ít hoặc không có kiến thức hay kinh nghiệm với mục đích giúp họ nắm vững chuyên môn. Ngược lại, giáo dục kinh doanh đòi hỏi người nhập học phải có một chút kinh nghiệm từ trước. Thêm vào đó, với giáo dục nghề nghiệp, việc học chỉ là việc cá nhân, trong khi chất lượng của giáo dục kinh doanh lại phụ thuộc vào việc học nhóm.
Ở giai đoạn 2, chương trình học, giáo dục kinh doanh lại có những yêu cầu đặc trưng đối với sinh viên, có thể nói ngắn gọn là sự cần thiết phải trở thành những người quản lý chu đáo, có hiểu biết, nhạy bén, linh hoạt, thích ứng nhanh và có thể trở thành những nhà lãnh đạo toàn cầu. Sinh viên có thể học cách đạt được những yêu cầu này trong môi trường giáo dục kinh doanh. Nói cách khác, ở đây họ phải tự học, chứ không được dạy tất cả mọi thứ như tại trường dạy nghề. Theo kết quả một cuộc khảo sát với khoảng 600 cựu sinh viên trường đại học Cambridge, môi trường học có ích cho sự nghiệp sau này của sinh viên hơn là chương trình giảng dạy. Trong chương trình học, các kỹ năng lãnh đạo và xây dựng chiến lược được đề cao hơn cả. Một khác biệt nữa so với giáo dục nghề nghiệp là giáo dục kinh doanh chú trọng kỹ năng hội nhập. Để phát triển kĩ năng hội nhập thì chỉ có cách là học, nên trường kinh doanh cần tạo môi trường học để các cá nhân phát triển kĩ năng này. Hơn nữa, giáo dục kinh doanh nên có sự tương tác với sinh viên và không nên áp dụng hình thức một-phù-hợp-cho-tất-cả, tức là việc học cần được thiết kế để phù hợp với từng trường hợp sinh viên cụ thể, bởi họ có kinh nghiệm khác nhau và trình độ khác nhau. Mô hình của trường Insead là một ví dụ điển hình.
Và ở giai đoạn 3, đánh giá, sự khác biệt giữa hai mô hình giáo dục đó là: Bởi giáo dục kinh doanh không chỉ là giáo dục về một mảng kiến thức được định sẵn, mà còn cả về những đặc trưng riêng và những kinh nghiệm có được từ hoạt động nhóm, nên đối với giáo dục kinh doanh, hệ thống chấm điểm không đánh giá được chính xác năng lực quản lý của sinh viên. Thay vì đó, sinh viên nên được thực làm thay vì chỉ học vì thứ hạng hay điểm số như trong những trường dạy nghề.
Tóm lại, các nhà giáo dục cần ý thức rõ về nghề nghiệp chuyên môn. Những trường kinh doanh không đào tạo các nhà quản lý theo cách riêng, cũng không buộc họ phải tuân theo một quy tắc nghề nghiệp nào. Những gì họ làm là mang lại một môi trường học, nơi củng cố, chia sẻ và cung cấp các kinh nghiệm kinh doanh, thúc đẩy sự phát triển cá nhân và hỗ trợ các nhà quản lý trong việc đối mặt với môi trường làm việc phức tạp của họ. Nơi đây chính là vườn ươm cho những nhà lãnh đạo doanh nghiệp tương lai.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
“No, management is not a profession”, Havard Business Review, ấn bản tháng Bảy-tháng Tám năm 2010 

0 Response to "QUẢN LÝ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT NGHỀ"

Đăng nhận xét

Xem nhiều nhất

Xem nhiều nhất trong tháng