10 CÁCH THỨC ĐỂ TẠO RA GIÁ TRỊ CHO CỔ ĐÔNG - KỲ 3 (LIÊN HỆ THỰC TẾ TỪ 10 QUY TẮC)

Tiếp cận Cấp độ 10: Câu chuyện về Berkshire Hathaway - Michael J. Mauboussin
Có công ty nào ở Mỹ đưa ra các quyết định nhất quán với cả 10 nguyên tắc về tạo giá trị cho cổ đông hay không?

Berkshire Hathaway, do huyền thoại Warren Buffett dẫn dắt, có lẽ là ví dụ điển hình nhất. Warren Buffett không chỉ là cổ đông lớn nhất của công ty, ông còn là người ở vị thế hiếm có để có thể xem xét các động cơ thúc đẩy việc tạo ra giá trị cho cổ đông thông qua con mắt của một nhà đầu tư, nhà lãnh đạo lớn.  Ông nhận xét. “Tôi là một doanh nhân giỏi hơn vì tôi là một là đầu tư, đồng thời tôi cũng trở thành một nhà đầu tư giỏi hơn vì tôi là một doanh nhân. Nếu như bạn có đầu óc của cả hai, điều đó sẽ hỗ trợ bạn trong mỗi lĩnh vực.”

Ví dụ, trong hoạt động truyền thông tại Berkshire, Buffett xác định rõ ràng rằng công ty của ông không “tuân theo hoạt động đưa ra chỉ đạo về lợi nhuân thông thường”, đồng thời nhận thức được rằng “lợi nhuận báo cáo có thể phản ánh tương đối ít về kết quả hoạt động kinh doanh thực sự của công ty” (Xem Nguyên tắc số 1). Thay vào đó, công ty cam kết sẽ “thẳng thắn trong việc báo cáo với bạn, nhấn mạnh những cái được và chưa được quan trọng trong việc đánh giá giá trị doanh nghiệp. Nguyên tắc của chúng tôi là cho bạn biết về tình hình kinh doanh thực tế của công ty, những điều mà chúng tôi muốn được biết nếu như chúng tôi ở vị thế của bạn. Đấy là những điều tối thiểu chúng tôi phải làm cho bạn[2] ” (nguyên tắc số 10).

Các quyết định về phân bổ nguồn vốn của Berkshire, đặc biệt là khi tăng trưởng lợi nhuận và việc tạo ra lợi ích cho nhà đầu tư xung đột với nhau, cũng phải phù hợp với nguyên tắc về tạo ra lợi ích cho cổ đông. Buffet viết, “Những hệ quả về mặt kế toán không ảnh hưởng đến các quyết định về phân bổ nguồn vốn hay về hoạt động kinh doanh của chúng tôi. Khi các chi phí cho vụ thâu tóm là tương đương, chúng tôi muốn dùng chi phí ấy để có được 2 đô-la lợi nhuận mà theo các nguyên tắc kế toán tiêu chuẩn thì chúng tôi không được báo cáo, chứ không phải là 1 đô-la lợi nhuận có thể báo cáo được.[3]  (Nguyên tắc 2 và 3).

Các công ty hướng đến việc tạo ra giá trị cho cổ đông nhận thức được tầm quan trọng của việc tạo dòng tiền dài hạn và do đó tránh được những hoạt động dùng để thúc đẩy kết quả kinh doanh trong ngắn hạn nhưng lại ảnh hưởng không tốt [4] đến kết quả trong dài hạn. Báo cáo thường niên năm 2005 của Berkshire đã giải trình về vị thế của công ty: “Nếu như ban quản trị đưa ra những quyết định không tốt nhằm đạt được các mục tiêu về doanh lợi ngắn hạn, khiến cho công ty lâm vào tình thế bất lợi, thì sau đấy dù có tài giỏi đến đâu cũng không thể khắc phục được hậu quả phải chịu.”

Berkshire cũng rất khác biệt xét về khâu quản trị doanh nghiệp và trả tiền thù lao của công ty. Rõ ràng là sự giàu có của Buffet cũng như là của Charlie Munger, phó chủ tịch HĐQT công ty, lên xuống đồng điệu với sự thịnh vượng của các cổ đông khác. Cổ phiếu của Berkshire thể hiện tuyệt đại đa số giá trị ròng của họ (Nguyên tắc số 9). Như Buffet lưu ý, “Charlie và tôi không thể hứa hẹn với bạn về kết quả kinh doanh được. Nhưng chúng tôi có thể bảo đảm rằng doanh lợi của bạn sẽ luôn sát sao với của chúng tôi[5] , dù cho bạn lựa chọn hợp tác với chúng tôi trong bất kì giai đoạn nào.”

Hướng tiếp cận về tiền thù lao của công ty cũng phải nhất quán với nguyên tắc về tạo giá trị cho cổ đông và hoàn toàn trái ngược với những cách thức trả tiền thù lao thông thường ở Mỹ. Khoản tiền lương 100,000 đô-la hằng năm của Buffet đã đưa ông vào danh sách những CEO làm việc cho 500 công ty lớn nhất Hoa Kỳ (Fortune 500) nhưng được trả lương thấp nhất, trong khi mức lương bình quân là trên 8 triệu đô-la.  Hơn nữa, Berkshire là công ty hiếm hoi không hề đưa ra bất kì hợp đồng quyền chọn cổ phiếu hay cổ phiếu hạn chế nào cho nhân viên. Buffett không phản đối bản thân việc trả lương dựa vào vốn cổ phần, nhưng ông có lập luận rằng có quá ít công ty thật sự kết nối được việc chi trả lương với kết quả hoạt động kinh doanh. (Nguyên tắc số 6).

Buffett sử dụng Geico, công ty bảo hiểm ô tô trực thuộc Berkshire, để minh họa cho triết lý trả tiền thù lao của công ty. theo như Buffett giải thích, mục tiêu của kế hoạch này là, “phải (1) phù hợp với tình hình kinh tế của đơn vị kinh doanh cụ thể; (2) có đặc điểm đơn giản để có thể dễ dàng đo lường được mức độ đạt được; (3) trực tiếp liên quan đến các hoạt động thường nhật của những thành phần tham gia.” Ông nói rõ rằng “chúng tôi tránh xa những hợp đồng may rủi[6] , những thứ mà có giá trị cuối cùng hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của người mà chúng tôi muốn tác động đến hành vi” (Nguyên tắc 7 và 8).

Cho đến nay, Berkshire trông như một công ty tạo ra giá trị cho cổ đông ở cấp độ 10 – tức là một công ty áp dụng cả 10 nguyên tắc. Nhưng công ty này không tuân theo Nguyên tắc 4 một cách chặt chẽ (chỉ tích trữ những tài sản giúp tối đa hóa giá trị cho cổ đông) và không bao giờ tuân thủ Nguyên tắc 5 (hoàn trả tiền mặt cho cổ đông). Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, những bài viết và lời bàn của Buffett và Munger đều cho thấy rằng Berkshire đánh giá các khoản đầu tư của mình dựa trên những nguyên tắc này ngay cả khi không trực tiếp áp dụng chúng.

Nguyên tắc 4 đưa ra lời khuyên nên bán các đơn vị kinh doanh nếu như có một người mua đưa ra mức giá hợp lý so với giá trị ước tính. Buffett dứt khoát tuyên bố. “Dù cho mức giá là thế nào thì chúng tôi cũng không hứng thú gì với việc bán bất kì một đơn vị kinh doanh đang hoạt động tốt nào trực thuộc Berkshire,” ông nhấn mạnh quan điểm này là “làm tổn hại đến kết quả tài chính của chúng tôi”.

Và mặc dù dư quỹ tiền mặt tới 40 tỷ đô-la vào cuối năm 2005, tính tới thời điểm hiện tại Berkshire vẫn không hề hoàn trả một đồng nào cho các cổ đông của mình. Tuy nhiên, công ty quả thực có áp dụng một bài thẩm tra minh bạch để xác định tác dụng của việc giữ lại so với việc phân phối tiền mặt: Ban quản trị đánh giá “liệu việc giữ lại tiền qua thời gian như thế có mang lại cho các cổ đông ít nhất là $1 giá trị thị trường cho mỗi $1 được giữ lại hay không.”. Tất nhiên là bài thẩm tra này chỉ là diễn giải lại quan niệm cốt lõi về giá trị của cổ đông, rằng tất cả các khoản đầu tư phải tạo ra một mức lợi tức cao hơn chi phí vốn. Phù hợp với Nguyên tắc 5, Buffett thể hiện quan điểm rõ ràng về hậu quả của việc không  đáp ứng được yêu cầu của bài thẩm tra này. Ông cho biết, “Nếu như chúng tôi đạt được đến mốc không  thể tạo ra thêm giá trị bằng thu nhập giữ lại được nữa, thì chúng tôi sẽ chi trả hết các khoản này và để cho các cổ đông tận dụng nguồn quỹ đó.”

Ảnh hưởng của Buffett đã vượt ra ngoài Berkshire, đến với những công ty mà ông nắm giữ chức vị thành viên HĐQT. Ví dụ, Washington Post và Coca-Cola là hai trong số những công ty đầu tiên tự nguyện đưa ra hợp đồng quyền chọn cho nhân viên vào năm 2002.  Các công ty mà Buffett từng làm việc cùng cũng đã có lịch sử mua lại cổ phiếu.

1.            Nguồn trích dẫn bao gồm các ấn bản của Berkshire Hathaway cũng như là nhiều hãng tin đại chúng khác.
Michael J. Mauboussin hiện là GĐ chiến lược đầu tư tại Công ty quản lý vốn Legg Mason, có trụ sở ở Baltimore. Ông hiện là một cổ đông của Berkshire Hathaway.

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Các nhà đầu tư cần một cơ sở để đánh giá những khả năng trong tương lai về dòng tiền của một công ty cũng như là có một cái nhìn rõ ràng về tính biến động tiềm tàng của những khả năng đó.

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đưa ra một cách thức để ước lượng cả hai thứ trên bằng cách phân tách những dòng tiền đã thu được với những khoản dồn tích trong tương lai.

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh. Phần đầu của bản báo cáo này chỉ theo dõi những dòng tiền từ hoạt động kinh doanh. Phần này không thay thế cho bản báo cáo lưu chuyển tiền tệ truyền thống vì nó không bao gồm dòng tiền từ hoạt động tài chính – phát hành mới cổ phiếu, mua lại cổ phiếu, vay mới, trả nợ tiền vay, và trả lãi tiền vay.

Những khoản thu nhập và chi phí dồn tích. Phần thứ hai của bản báo cáo trình bày về những khoản thu nhập và chi phí dồn tích, vốn dùng để ước tính những khoản thu và nhận bằng tiền mặt trong tương lai, phát sinh từ các giao dịch mua bán hiện tại. Ban quản trị sẽ đánh giá ba trường hợp - thường xảy ra nhất, lạc quan nhất và bi quan nhất – đối với các khoản dồn tích với nhiều mức độ rủi ro khác nhau do những đặc điểm về chu kỳ tiền mặt chuyển đổi dài cũng như là phổ kết quả rộng.

Phân tích và thảo luận của ban quản trị. Trong phần thứ ba này, ban quản trị sẽ trình bày về mô hình kinh doanh của công ty, những chỉ số đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh quan trọng (cả tài chính và phi tài chính), cùng với những giả định phản biện cho mỗi ước lượng về khoản dồn tích.

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh
Những khoản thu nhập và chi phí dồn tích
$___Tổng doanh thu
-___ Chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh: (1)
__ Chi phí sản xuất
__ Chi phí bán hàng
__ Chi phí quản lý doanh nghiệp
__ Thuế hiện hành
=___Lợi nhuận sau thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh, bằng “tiền mặt”
±___Thay đổi trong vốn lưu động
-__Các khoản đầu tư
Chi phí vốn
__(trừ các khoản thu được từ việc bán tài sản)
__Nghiên cứu và triển khai
__Các khoản đầu tư vô hình khác
=___Dòng tiền tự do (cho chủ nợ và cổ đông)


thường xảy ra nhất
lạc quan nhất
bi quan nhất
Các khoản dồn tích có mức độ rủi ro trung bình




Lợi tức chưa thực hiện từ các hợp đồng dài hạn
$____
____

____
Các khoản phải thu chưa thu được
____
____
____
Nghĩa vụ nợ bảo đảm
____
____
____
Phí về tái cơ cấu
____
____
____
Thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại
____
____
____
Các khoản dồn tích có mức độ rủi ro cao



Trợ cấp lương hưu đã xác định
____
____
____
Hợp đồng quyền chọn cổ phiếu dành cho nhân viên

____
____
____
Phân tích và thảo luận của ban quản trị





1.            Loại trừ những khoản phí phi tiền mặt, như khấu hao, thuế được hoãn, các khoản đánh giá lại tài sản và nợ.

Phần thưởng - và Rủi ro

Tất nhiên, câu hỏi quan trọng là, liệu việc tuân theo mười nguyên tắc này có phục vụ lợi ích dài hạn của các cổ đông hay không. Đối với hầu hết các công ty, câu trả lời là CÓ. Chỉ cần loại bỏ thói quen trì hoãn hoặc từ bỏ các khoản đầu tư tạo ra giá trị để đạt được các mục tiêu lợi nhuận hàng quý là có thể mang lại một sự khác biệt đáng kể. Hơn nữa, việc thoát khỏi trò chơi “điều khiển” lợi nhuận - gia tăng doanh thu cho kì hiện tại và hoãn các chi phí đến các kì sau - sẽ làm giảm nguy cơ theo thời gian một công ty sẽ không thể đáp ứng những kì vọng của thị trường và điều này sẽ khiến cổ phiếu của công ty ấy giảm giá. Nhưng phần thưởng thật sự nằm ở sự khác biệt [8] mà một sự định hướng đúng đắn về giá trị của cổ đông mang lại cho chiến lược phát triển lâu dài của công ty.

Đối với hầu hết các doanh nghiệp, sự tăng trưởng tạo ra giá trị thách thức mang tính chiến lược, và để thành công, các công ty này phải làm tốt công việc phát triển cái mới, khả năng đột phá trong kinh doanh. Nguyên nhân là, phần lớn giá cổ phiếu của công ty thông thường phản ánh kỳ vọng về tăng trưởng của các ngành kinh doanh hiện nay. Nếu các công ty đáp ứng được những kỳ vọng đó, thì các cổ đông sẽ chỉ kiếm được một mức lợi nhuận bình thường. Nhưng để mang lại lợi nhuận cao về dài hạn – tức là, tăng giá cổ phiếu nhanh hơn so với giá cổ phiếu của đối thủ cạnh tranh – ban quản trị hoặc là phải liên tục vượt quá kỳ vọng của thị trường nhờ những ngành kinh doanh hiện tại của mình hoặc triển khai các ngành kinh doanh tạo ra giá trị mới. Gần như không thể liên tục vượt quá được kỳ vọng ngành kinh doanh hiện nay, bởi vì nếu bạn làm được, nhà đầu tư chỉ đơn giản là đưa ra kỳ vọng cao hơn. Vì vậy, cách hợp lý duy nhất để mang lại lợi nhuận cao về dài hạn là tập trung vào các cơ hội kinh doanh mới. (Tất nhiên, nếu giá cổ phiếu của một công ty đã phản ánh kỳ vọng đối với những ngành kinh doanh mới – vốn có thể xảy ra khi ban quản trị có một lịch sử mang lại sự tăng trưởng tạo ra giá trị kiểu như vậy - thì nhiệm vụ tạo ra lợi nhuận cao sẽ trở nên khó khăn; đó là tất cả những điều mà các nhà quản trị có thể làm để đáp ứng được những kì vọng hiện có.)

Các công ty chú trọng vào các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong ngắn hạn bị coi như thất bại trong việc đưa ra một chiến lược tăng trưởng tạo ra giá trị vì họ bị buộc phải tập trung vào các ngành kinh doanh hiện tại hơn là vào việc triển khai những hướng đi mới trong các kỳ dài hơn. Khi nhà quản trị dành quá nhiều thời gian vào các ngành kinh doanh chủ chốt, rốt cuộc họ lại không có nhiều cơ hội mới trong tương lai gần. Và khi họ gặp rắc rối – việc không thể tránh khỏi - họ có ít lựa chọn ngoài việc cố tìm biện pháp chữa cháy. Nguyên nhân của sự thất bại này đã được Clay Christensen và Michael Raynor mô tả rất chính xác trong cuốn sách Giải pháp của Nhà cải cách: Tạo lập và Duy trì tăng trưởng thành công (Nhà xuất bản Trường Kinh Doanh Harvard, 2003) . Đại loại là, điều đó diễn ra như sau:

- Mặc dù ngành kinh doanh cốt lõi hiện đang phát triển của công ty có sự tăng trưởng chững lại và lợi nhuận biên giảm, ban quản trị vẫn tiếp tục tập trung vào việc phát triển ngành này dù cho nó ảnh hưởng xấu đến việc triển khai các ngành kinh doanh mới có thể tăng trưởng.

- Cuối cùng, các khoản đầu tư vào ngành kinh doanh cốt lõi đó không còn có thể tạo ra mức tăng trưởng mà các nhà đầu tư mong đợi, thì giá cổ phiếu sẽ sụt giảm.

- Để khôi phục lại mức giá cổ phiếu, ban quản trị thông báo một chỉ tiêu về tỷ lệ tăng trưởng nhưng tỷ lệ đó lại vượt quá xa những gì mà ngành kinh doanh chủ chốt kia có thể mang lại, điều này dẫn đến một khoảng chênh lệch lớn hơn về mức tăng trưởng.

- Đối mặt với khoảng chênh lệch này, công ty chỉ tập trung rót vốn cho các dự án hứa hẹn mang lại mức tăng trưởng rất cao và nhanh. Do đó, các công ty buộc phải từ chối rót vốn cho các ngành kinh doanh mới, có khả năng tăng trưởng và có thể đẩy nhanh sự phát triển của công ty, nhưng chúng không tăng trưởng rất nhanh và rất lớn.

- Các nhà quản trị sau đó lại phản ứng bằng những dự báo quá lạc quan để có được nguồn vốn cho các những đổi mới tại các thị trường lớn hiện có. Những đổi mới này có tiềm năng tạo ra đủ doanh thu đủ nhanh chóng để đáp ứng mong đợi của nhà đầu tư.

- Để đáp ứng được thời gian biểu cho kế hoạch triển khai, công ty đặt ra một cơ cấu chi phí lớn trước khi hiện thực hóa bất kỳ khoản thu nào.

-Khi mức tăng doanh thu không đủ và lỗ thì triền miên, thị trường lại gây sức ép lên giá cổ phiếu và một CEO mới lại được mời để đẩy giá cổ phiếu lên.

-Nhận thấy rằng công ty đang gần như không có cơ hội gì trong các lĩnh vực kinh doanh mới, vị CEO mới đến cố gắng nhanh chóng ngăn chặn các khoản lỗ bằng cách chỉ phê duyệt những khoản chi tiêu giúp đơn vị kinh doanh chủ chốt kia tăng trưởng.

-Giờ đây công ty lại trở về tình trạng ban đầu và đã mất đi một lượng đáng kể giá trị của cổ đông.

Các công ty coi trọng giá trị cổ đông sẽ tránh xu hướng hành xử theo kiểu tự củng cố này[9] . Bởi vì họ không dừng lại ở những kỳ vọng trong ngắn hạn của thị trường, họ không chờ đợi cho đến khi đơn vị kinh doanh chủ chốt suy giảm thì mới đầu tư vào các cơ hội tăng trưởng mới. Do đó họ có nhiều khả năng trở thành những người tiên phong trong thị trường và dựng lên những rào cản lớn đối với các đối thủ muốn thâm nhập nhờ lợi thế về quy mô hoặc tri thức, hiệu ứng mạng lưới tích cực, hoặc những lợi thế về uy tín. Đội ngũ quản trị của những công ty này có tầm nhìn hướng tới tương lai và nhanh nhạy với các cơ hội có tính chiến lược. Theo thời gian, họ giỏi hơn các đối thủ cạnh tranh của mình xét về việc nắm bắt cơ hội để đạt được lợi thế cạnh tranh.

Mặc dù việc áp dụng mười nguyên tắc này sẽ giúp cải thiện triển vọng lâu dài cho nhiều công ty, một số công ty vẫn sẽ gặp phải nhiều vấn đề nếu như các nhà đầu tư vẫn còn quan tâm tới lợi nhuận trong ngắn hạn, bởi vì trong những tình huống nhất định một mức giá cổ phiếu thấp quả thực có thể ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh. Nguy cơ này sẽ đặc biệt nghiêm trọng đối với các công ty như công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ cao, vốn phụ thuộc rất nhiều vào mức giá cổ phiếu tốt để rót vốn phát triển cũng như là để cho các nhân viên, khách hàng và nhà cung cấp thấy được những tín hiệu tích cực. Khi giá cổ phiếu đang sụt giảm, việc bán cổ phiếu mới sẽ làm pha loãng cổ phần của các cổ đông hiện có, hay trong một số trường hợp, làm cho các công ty trở nên kém hấp dẫn đối với nhiều nhà đầu tư sau này. Kết quả là, ban quản trị có thể phải hoãn hoặc loại bỏ các kế hoạch tăng trưởng giúp tạo ra giá trị. Sau đó, vì các nhà đầu tư dần nhận ra được tình cảnh này, giá cổ phiếu tiếp tục giảm mạnh, điều này có thể dẫn đến một vụ bị thâu tóm với giá rẻ mạt hoặc phá sản.

Các công ty có nguồn vốn hạn hẹp cũng có thể dễ bị ảnh hưởng, đặc biệt là khi thị trường lao động đang eo hẹp, khách hàng thì ít, hoặc các nhà cung ứng có thế áp đảo. Một mức giá cổ phiếu thấp có nghĩa là các công ty này sẽ khó có thể chào mời các gói thu nhập hấp dẫn dựa trên hợp đồng quyền chọn hay cổ phiếu hạn chế, điều này sẽ khiến việc thu hút và giữ chân người tài trở nên khó khăn, những người mà kiến thức, ý tưởng và kỹ năng của họ ngày càng trở thành một nguồn giá trị quan trọng. Từ quan điểm của khách hàng, giá cổ phiếu thấp làm gia tăng những mối nghi ngờ về sức cạnh tranh và năng lực tài chính của công ty cũng như khả năng tiếp tục sản xuất những sản phẩm tiên tiến, có chất lượng cao, cũng như dịch vụ chăm sóc khách hàng đáng tin cậy của công ty này. Những nhà cung cấp và nhà phân phối cũng có thể phản ứng bằng cách đưa ra các điều khoản hợp đồng bất lợi hơn, hoặc, nếu họ cho rằng xác suất công ty rơi vào cảnh khó khăn tài chính là rất cao, họ có thể từ chối làm ăn với công ty này. Trong mọi trường hợp, những khó khăn của công ty sẽ càng phức tạp khi các tổ chức tín dụng cân nhắc các rủi ro về kết quả hoạt động kinh doanh phát sinh từ mức giá chứng khoán thấp và yêu cầu mức lãi suất cao hơn cũng như là điều kiện cho vay chặt chẽ hơn.

Rõ ràng là, nếu một công ty dễ bị ảnh hưởng xét về những mặt này, thì các nhà quản trị có trách nhiệm sẽ khó có thể bỏ qua những áp lực của thị trường đối với kết quả hoạt động kinh doanh trong ngắn hạn; và cần có sự dung hòa khi áp dụng mười nguyên tắc nói trên. Nhưng thực tế là những điều kiện ngặt nghèo này không đúng với phần lớn các công ty có uy tín và được có cổ phiếu giao dịch trên sàn. Rất ít công ty dựa vào phát hành cổ phiếu để có vốn tăng trưởng. Phần lớn các công ty tạo ra đủ tiền để trả cho nhân sự cấp cao đủ hậu hĩnh mà không cần đến các khoản ưu đãi vốn cổ phần. Hầu hết cũng có một tập hợp lớn các khách hàng và nhà cung cấp để làm ăn, và cũng có rất nhiều các ngân hàng hỗ trợ công việc kinh doanh của họ.

Do đó, đã đến lúc các hội đồng quản trị và CEO tiến lên và nắm bắt cơ hội này. Bạn càng sớm làm cho công ty của mình trở thành một công ty cấp độ10, lợi tức mà bạn và các cổ đông của mình thu được càng nhiều. Còn thời điểm nào tốt hơn bây giờ để các nhà đầu tư tổ chức hành động thay mặt cho những cổ đông và người thụ hưởng mà họ đại diện, và nhấn mạnh rằng rằng giá trị của cổ đông về dài hạn đang trở thành nguyên tắc chi phối cho tất cả các công ty trong danh mục đầu tư của mình?



0 Response to "10 CÁCH THỨC ĐỂ TẠO RA GIÁ TRỊ CHO CỔ ĐÔNG - KỲ 3 (LIÊN HỆ THỰC TẾ TỪ 10 QUY TẮC)"

Đăng nhận xét

Xem nhiều nhất

Xem nhiều nhất trong tháng