Hiện nay Việt Nam
đang đứng trước thời khắc lịch sử, khi đất nước đang phải chọn ra chỉ một trong
nhiều ngã rẽ quyết định tới sự phát triển của đất nước trong lâu dài. Muốn sự
lựa chọn trở nên sáng suốt, yếu tố trước tiên cần tính tới là phát huy nội lực
dân tộc.
Việt Nam đang được nhiều
quốc gia trên thế giới công nhận là một nước có một nền Kinh tế Thị trường đầy
đủ. Tuy nhiên, sự công nhận đó hầu hết đạt
được thông qua các thỏa thuận ngoại
giao và chính trị. Bài phỏng vấn dưới đây, mong muốn phân tích tổng quan về thực trạng nền Kinh tế
Thị trường của Việt Nam dưới góc nhìn kinh tế.
Trong bài viết dưới
đây, chúng tôi rất may mắn có một cuộc trao đổi với Tiến Sĩ Lưu Bích Hồ -
Nguyên thành viên Ban Cố vấn Kinh tế Thủ Tướng, nguyên viện Trưởng Viện chiến
lược – Bộ kế hoạch và đầu tư.
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀ YẾU TỐ THEN CHỐT ĐỂ
TRÁNH MỘT CUỘC CẢI CÁCH BỊ ĐỘNG, VÌ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀ LUÔN LUÔN CẢI CÁCH.
The Keynesian (TK): Chúng tôi được biết
ông là một trong những thành viên đầu tiên trong ban nghiên cứu kinh tế thủ
tướng, là nhân chứng trong công cuộc Đổi mới năm 1986. So sánh về thực trạng xã
hội thời kì đó và hiện nay, liệu ông có cho rằng có sự tương đồng trong hai
thời kì này, và đây cũng chính là thời điểm then chốt để chúng ta thực hiện một
cuộc Đổi mới “2.0”?
TS. Lưu
Bích Hồ (LBH): Trước tiên tôi muốn mở đầu bằng một quan điểm cá nhân: Nước Việt
Nam chúng ta có thế mạnh to lớn về xử lý khủng hoảng ngắn hạn. Điều đó đã được
chứng minh trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Tuy nhiên điều đó không đồng
nghĩa với việc chúng ta luôn chủ động được trước mọi vấn đề cũng như có một chiến
lược phát triển lâu dài thực sự hoàn hảo.
Nhắc lại
một chút về công cuộc Đổi mới trong giai đoạn 1986, khi đó chúng ta đứng trước
rất nhiều khó khăn nội tại cũng như trên bình diện toàn cầu. Bài toán phát
triển kinh tế theo mô hình khép kín đã cho đáp số là một nền kinh tế tăng
trường rất thấp, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người dân. Nhận ra điều
đó, chúng ta đã triển khai một cuộc cải sách lớn trên nhiều lĩnh vực, chuyển
đổi mô hình kinh tế từ phi thị trường sang mô hình kinh tế thị trường, từ khép
kín (trong các khối ý thức hệ) sang mở cửa với toàn cầu, và từ Sở hữu đơn nhất
sang Sỡ hữu nhiều thành phần (chủ đạo là nhà nước và tư nhân).
Lý do cho
cuộc cải cách kinh tế này bắt nguồn từ một sự thật đã được tiên liệu trước: Mô
hình phát triển kinh tế lúc đó đã thất bại ngay từ trong vấn đề lý luận. Sau
năm 1975, chúng ta đã đề ra chính sách phát triển kinh tế bỏ qua các bước trung
gian và phấn đấu đi lên nền kinh tế dựa trên công nghiệp nặng. Thực tế đã chứng
minh rằng chúng ta còn rất thiếu rất nhiều nguồn lực để có thể thực hiện được
điều đó.
TK: Vậy theo ông, có những bước phát triển
kinh tế nào và Việt Nam chúng ta đang đứng ở đâu trong những bước phát triển
kinh tế thế giới khi đó?
LBH: Đất
nước chúng ta, ngay trong thời điểm hiện tại, vẫn đang ở giai đoạn phát triển
khá thấp. Theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng Việt Nam vẫn đang còn ở giai
đoạn đầu tiên của sự phát triển và đang đi những bước chập chững sang giai đoạn
thứ 2.
Nói về
các bước phát triển chung, hiện nay thế giới đã tiến tới 5 hình thái phát
triển. Thứ nhất là giai đoạn 1 – phát triển nông nghiệp thuần
túy. Thứ 2 là giai đoạn gia công hàng hóa cho các nước phát triển. Sang giai
đoạn 3, khi nội lực đã tốt, nền kinh tế sẽ chuyển hóa thành hình thái tự chế
tạo, với nòng cốt dựa trên công nghiệp năng. Giai đoạn thứ 4 là hiện thân của
mô hình phát triển hiệu quả, khi kết hợp các yếu tố khoa học công nghệ thay vì
sử dụng lao động thô sơ. Đến bước cuối cùng là giai đoạn thật sự sáng tạo, khi
nền kinh tế phát triển dựa trên những ý tưởng mới, hay còn gọi là nền kinh tế
tri thức.
Các quốc gia hiện đại
nhất và tiên tiên nhất đã đạt được tới trình độ thứ 5, nhưng chưa thể coi là
tới ngưỡng toàn diện. Theo chỉ số KEI (chỉ số kinh tế tri thức), các nước như
Mỹ hay Canada đã đạt thang điểm 8 trên 10. Còn nước ta, mới chỉ đạt được điểm 2
hoặc 3 trong sự phát triển kinh tế tri thức toàn cầu.
Nói như vậy để giải
thích rõ ràng rằng chúng ta đang thực sự đứng ở đâu. Khi hiểu được vị thế của
mình, người dân mới có thể hiểu rằng muốn vươn tới ngay bước thứ 3 (phát triển
chế tạo dựa trên công nghiệp năng) thì rất khó có thể thành công.
TK: Vậy cho phép tôi được hỏi thêm, khi giai đoạn Đổi
mới năm 1986 có vẻ như đã thực hiện xong sứ mệnh của nó, và nền kinh tế hiện
nay đang lộ ra nhiều khuyết điểm và lạc hậu so với sự phát triển chung của toàn
cầu, vậy con đường cho giai đoạn Đổi mới thứ 2 sẽ là như thế nào?
LBH: Có một cuốn sách
mà tôi rất thích, với tựa đề “Vì sao các quốc gia thất bại?” Điều khiến tôi tâm
đắc nhất trong cuốn sách đó chính là việc một đất nước muốn trường tồn phải
luôn dung nạp và chuyển mình thường xuyên, không chỉ về yếu tố kinh tế, mà còn
cả những vấn đề văn hóa xã hội. Một đất nước thu mình lại chính là một đất nước
đang trong bờ vực thoái hóa.
Tôi vẫn thấy rằng, có
vẻ như chúng ta vẫn phải triển khai dứt điểm những gì chưa đạt được của chính
sách Đổi mới năm 1986. Nói hiện nay là cuộc Đổi mới 1+ (một cộng) thì đúng hơn
là Đổi mới 2.0. Lý do là vì chúng ta phải chuyển mình thành một nền Kinh tế Thị
trường Đầy đủ và hiện đại thật sự, chứ không còn là một nền kinh tế còn nhiều
khuyết điểm méo mó. Hơn nữa, chúng ta phải xây dựng một nền kinh tế dựa trên
Khoa học công nghệ và Nguồn nhân lực chất lượng cao. Điều đó sẽ giúp cho đất
nước duy trì được nguồn năng xuất hiệu quả - hay còn gọi là mô hình phát triển
bền vững. Phát triển bền vững là yếu tố then chốt để
tránh một cuộc cải cách bị động, vì phát triển bền vững là luôn luôn cải cách.
Tác động
của cuộc cải cách này, nếu chúng ta làm thực sự tốt, sẽ giúp cho con đường phát
triển của dân tộc trở nên rõ ràng hơn. Ta sẽ không chỉ vượt qua được bẫy thu
nhập trung bình để lên tới mức thu nhập trung bình cao, mà còn đạt được mục
đích trở thành một nước có nền công nghiệp hiện đại. Các chính khách hiện nay,
trong những bài diễn văn lớn, luôn kèm theo câu khẳng định “tới năm 2020 kinh
tế nước ta sẽ trở thành một nền kinh tế công nghiệp hiện đại”. Theo tôi, cần có
một sự nỗ lực rất lớn và đôi chút may mắn để cột mốc kia có thể thành hiện
thực. Với quan điểm của một chuyên gia kinh tế, tôi nghĩ rằng ít nhất năm 2050
chúng ta mới có thể đạt được điều đó.
TIẾN TỚI MỘT NỀN KINH TẾ HIỆN ĐẠI, ÁP DỤNG
CÔNG NGHỆ CHÍNH LÀ NÚT THẮT CHO VẤN ĐỀ MINH BẠCH HÓA
TK: Tôi muốn đi sâu hơn vào một trong
những yếu tố chủ đạo trong nền kinh tế thị trường, đó chính là Minh bạch hóa.
Theo Chỉ số minh bạch thế giới – Việt Nam đang đứng thứ 116 trên 178 quốc gia
và vùng lãnh thổ, đạt điểm số 2.7/10. Đứng dưới góc độ một nhà kinh tế, ông
nhìn nhận ra sao về con số này?
LBH: Tôi
cảm thấy thật sự rung động. Nhưng có vẻ như, không nhiều người trong xã hội
chúng ta cảm thấy rung động như tôi khi nhìn vào những con số khô khan kia. Một
nghịch lý đang xảy ra khi chúng ta đang tiến tới một mô hình mà theo Marx nói
là đỉnh cao của xã hội loài người (mô hình xã hội chủ nghĩa), nhưng vấn đề minh
bạch dân chủ vẫn còn đang ở mức thấp.
Tôi muốn
nói thêm về định nghĩa Minh bạch hóa. Mọi người vẫn hay hiểu nôm na rằng minh
bạch hóa là sự công bố thông tin kịp thời nhằm đánh giá tình hình hiệu quả của
các chính sách cũng như nghị định. Tuy nhiên, cách hiểu đơn giản như vậy không
phục vụ nhiều cho chính người dân trong xã hội. Minh bạch hóa không chỉ đơn
giản là công bố thông tin, mà còn phải giúp người dân tiên liệu được rằng thông
tin đó sẽ dẫn chúng ta đến đâu. Hay nói cách khác, ta phải được minh bạch hóa
một cách toàn phần.
Tôi lấy một ví dụ: Hiện nay các chính sách của
Việt Nam được sửa đổi một cách khá “mau lẹ”, khiến ngay cả nhiều người làm
trong công tác nghiên cứu cũng không thể nắm được thông tin một cách nóng sốt
nhất. Như vậy, thử hỏi rằng liệu người dân sẽ biết được đến đâu những chính
sách của chính phủ đã ban hành, cũng như các tổ chức đoàn thể sẽ phải ứng phó
và hành động ra sao trước những thay đổi có phần chưa được minh bạch lắm đó.
Vậy nên tôi mới nói rằng minh bạch còn phải kèm theo việc người dân sẽ tiên lượng
được chính sách đó sẽ dẫn dắt người ta đến đâu.
TK: Mặc dù bức tranh minh bạch hiện nay
của Việt Nam được nhiều người ví von là một màu xám, tức là vẫn còn những gam
màu trắng đen chưa phân định rõ, tuy nhiên dưới tư cách là một công dân tôi có
thể nhận thấy được nhiều điểm sáng. Đơn cử như việc VCCI (Phòng thương mại và
Công nghiệp Việt Nam) đã có những nỗ lực trong việc đánh giá hiệu quả cạnh
tranh của các tỉnh và thành phố bằng chỉ số PCI, hay nỗ lực cải cách của chính
phủ trong việc tối giản phần nào các thủ tục hiện tại...
LBH: Theo
tôi những nỗ lực đó rất đáng được ghi nhận, nhưng không thể lấy đó làm cái cớ
cho việc ngừng cải tiến, vì nếu lấy thang đáng đánh giá là đòi hỏi chung của xã
hội về những cải cách trên thì chính bản thân nó vẫn chưa thể đáp ứng được tất
cả các nhu cầu. Như hôm trước tôi cũng có trao đổi với Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI), tôi có khuyên họ hãy vững tin và kiên trì trong vấn đề
này. Phải làm cho PCI trở nên thật hoàn chỉnh để giúp cải thiện đáng kể môi
trường kinh doanh tại Việt Nam.
Ví dụ cụ
thể về chỉ số PCI, tôi đánh giá là ổn. Tuy nhiên chỉ tiêu này vẫn cần phải cải
thiện rất nhiều. Ví dụ như cách tính GDP (Tổng sản phẩm nội địa), hay môi
trường kinh doanh như vậy đã đúng hay chưa? Nhiều tổ chức lớn trên thế giới,
như World Bank đã có những khảo sát tại Việt Nam về môi trường kinh doanh, mặc
dù rất công phu nhưng vẫn có nhiều điểm chưa thể đạt được. Ngay cả số liệu của
Tổng cục thống kê Việt Nam hiện nay, theo tôi vẫn chưa hoàn toàn đáng tin cậy.
Nguyên nhân
đặt ra ở đây không nằm ở vấn đề phương pháp, mà nằm ở vấn đề số liệu gốc. Chính
sự không minh bạch đã làm tù mù hóa đi rất nhiều nỗ lực của các tổ chức trong
việc tạo ra một cơ chế giúp cho nhiều thành phần trong xã hội có một luật chơi
dễ hiểu hơn.
TK: Vậy xin được biết ý kiến của ông về
việc cải cách luật pháp hiện nay, theo như luật sửa đổi năm 2014?
LBH: Theo
tôi tác dụng của việc cải cách rất tích cực và đã nhìn ra một số hiệu quả nhất
định, tuy nhiên còn thấp. Chính vì vậy mà trong năm nay, chính phủ Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng đã có những phát súng quyết liệt hơn trong vấn đề đẩy mạnh giảm
thiểu thủ tục chính sách.
Tuy
nhiên, một vấn đề được đặt ra là những văn bản dưới luật, ví dụ như nghị định,
vẫn còn chưa được làm rõ, gây nên việc chậm chễ trong việc ban hành những đạo
luật lớn. Tưởng tượng rằng một luật lớn thường có không dưới hàng chục nghị
định, thử hỏi rằng đến khi nào ta mới có thể sửa đổi được luật như mong muốn
nếu còn tình trạng chậm trễ.
TK: Theo ông, tại sao vấn đề minh bạch hóa
tại Việt Nam đang bị thế giới đánh giá thấp như hiện nay?
LBH: Điều
đầu tiên khiến tôi cảm thấy đáng tiếc, đó là Luật về Quyền tiếp cận thông tin.
Khi còn làm trong Ban nghiên cứu kinh tế thủ tướng, đã nhiều lần Ban nghiên cứu
đề xuất chính phủ Thủ tướng Phan Văn Khải trong việc thông qua đạo luật này,
nhưng không được Quốc hội thông qua. Điều này khá giống với những luật biểu
tình và chưng cầu dân ý hiện nay. Luật tiếp cận thông tin hiện nay mới chỉ được
thông qua trong các văn bản dưới luật (nghị định, quyết định). Đây chính là yếu
tố then chốt khiến Việt Nam bị đánh giá thấp thông vấn đề minh bạch.
Yếu tố
thứ hai chính là vấn đề lợi ích nhóm. Mặc dù đây đã là một vấn đề “cũ”, tuy
nhiên chính điều này vẫn đang cản trợ khá nhiều vấn đề minh bạch hóa nền kinh
tế. Ví dụ như khu vực ngân hàng, chính lợi ích nhóm đã làm cho việc minh bạch
nợ xấu trở nên khó khả thi, và là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới cuộc khủng hoảng
trong ngành ngân hàng của chúng ta gần đây. Giải quyết được vấn đề lợi ích
nhóm, là một trong những vấn đề then chốt nữa nhằm tiến tới một cơ chế kinh tế
minh bạch.
TK: Có ý kiến cho rằng, đất nước chúng ta
hiểu rất rõ về những vấn đề gặp phải, nhưng gặp khó khăn trong bước tìm ra giải
pháp khắc phục. Vậy theo ông, làm thế nào để có thể tăng được tính minh bạch
trong phát triển kinh tế hiện nay?
LBH: Tôi
tập trung vào ba vấn đề chính cần giải quyết: Cải cách bộ máy nhà nước, chống
tham nhũng và lợi ích nhóm, cũng như áp dụng công nghệ hiện đại vào phát triển
kinh tế. Tuy nhiên, tôi sẽ không nói rõ về việc chúng ta nên làm ra sao, mà sẽ
kể hai ví dụ điển hình dưới đây về giải pháp cho vấn đề minh bạch hóa của các
nước bè bạn trên thế giới.
Đầu tiên,
vấn đề tinh giảm biên chế hiện nay được dư luận quan tâm rất nhiều, khi bộ máy
chúng ta trở nên cồng kềnh và thiếu hiệu quả. Trong thời gian chính phủ Phan
Văn Khải, thủ tướng Trung Quốc lúc bấy giờ là ông Chu Dung Cơ đã có các cuộc
thảo luận với Việt Nam về cách thức tinh giảm biên chế. Ông Chu Dung Cơ đã nói
đến một giải pháp rất gai góc: Xóa biên chế. Cụ thể hơn, Trung Quốc đã xóa tất
cả những cán bộ không phù hợp ra khỏi biên chế, sau đó kết nạp lại họ theo đúng
tiêu chuẩn đã định. Đề làm được điều đó, không còn cách nào khác là đẩy những
cán bộ đó sang khu vực tư nhân.
Cách làm
này, theo như người dân Trung Quốc ví von, là “Một mũi tên trúng hai đích”.
Không chỉ phát triển được khu vực tư nhân, chính phủ Trung Quốc còn tinh gọn
được biên chế vốn dĩ rất cồng kềnh. Tất nhiên với những cán bộ bị xóa biên chế,
chính phủ phải khuyến khích doanh nghiệp tư nhân rất nhiều trong việc nhận một
nguồn nhân lực khổng lồ, kèm theo đó là công cuộc hỗ trợ đào tạo giúp các cán
bộ thích ứng được với việc làm mới. Việc làm đó sẽ tốn một khoản chi phí không
nhỏ, nhưng cái lợi về mặt lâu dài là rõ ràng và có thể nhìn thấy được. Điều
quan trọng là, chúng ta có thực sự quyết liệt trong vấn đề thực hiện hay không.
Thứ hai,
tôi muốn nói về việc áp dụng công nghệ hiện đại vào công tác quản lý. Tôi đã
từng đi khá nhiều nước, nhưng vẫn nhớ rất rõ lần công tác tại đất nước Bắc Âu
Phần Lan. Ở đây, tất cả mọi thứ đều được số hóa, từ việc đặt vé máy bay, khách
sạn, cho tới những buổi họp mặt. Thú vị nhất là việc tôi đi đến sân bay trung
tâm tại thủ đô Phần Lan, và nhận thấy nhân viên ở đây rất ít (chỉ giữ một số
nhân viên an ninh làm công tác bảo vệ). Lý do là tất cả thủ tục đều đã được số
hóa, và mỗi cá nhân chỉ cần có mã xác nhận đã đăng ký trước qua mạng là có thể
được thông qua và không cần kiểm tra hàng hóa.
Về áp
dụng công nghệ hiện đại, có thể đề cập đến nước ta trong vấn đề hải quan. Không
chỉ thủ tục hải quan tại Việt Nam đang ngày càng rườm rà, khi mất đến gần 1
tháng trong việc xuất nhập hàng, mà ở đây còn liên quan đến việc các hoạt động
có con người can dự trong ngành hải quan đang ngày càng trở nên thiếu minh
bạch. Chính điều đó đã cản trở Việt Nam trở thành một trạm trung chuyển lớn của
thế giới trong vấn đề hàng hóa, cũng như sự mất niềm tin của đại bộ phận dân
chúng trong vấn đề thủ tục nhà nước. Trừ phi là tài liệu tuyệt mật, theo ý kiến
cá nhân của tôi đa số công việc hành chính đều nên được số hóa nhằm phát huy
tính minh bạch một sách tối ưu.
TK: Vâng, xin cảm ơn ông đã tham gia bài
phỏng vấn của chúng tôi!

0 Response to "LIỆU CHÚNG TA CÓ CẦN MỘT CUỘC ĐỔI MỚI THỨ 2? (KỲ 1)"
Đăng nhận xét