Kinh nghiệm của tôi cho thấy rằng hầu hết các doanh nghiệp đều có thể tập trung vào 3-5 chỉ số chủ chốt và nắm bắt một phần quan trọng trong tiềm năng tạo ra giá trị về dài hạn.
Nguyên tắc số 5: Hoàn tiền cho cổ đông khi không có cơ hội đầu tư tạo ra giá trị đáng tin cậy
Ngay cả các công ty đưa ra quyết định chiến lược dựa trên
các nguyên tắc hợp lý để tạo giá trị cũng có thể mắc sai lầm khi phải
đưa ra các quyết định về phân phối tiền mặt. Tầm quan trọng của việc tuân thủ
nguyên tắc thứ năm này chưa bao giờ lớn đến như vậy: Tính đến quý I năm
2006, các công ty hoạt động trong ngành công nghiệp thuộc danh sách
S&P 500 có hơn 643 tỷ đô-la tiền mặt - số tiền có thể tăng hơn nữa vì
các công ty tiếp tục tạo ra dòng tiền tự do dương ở mức kỷ lục.
Các công ty hoạt động vì mục
tiêu giá trị với lượng lớn tiền mặt dư thừa nhưng lại có ít cơ hội đầu tư
tạo ra giá trị sẽ hoàn tiền cho cổ đông thông qua cổ tức và mua lại cổ
phiếu. Điều này không chỉ mang lại cho các cổ đông cơ hội tìm lợi tức tốt hơn
ở nơi khác, mà còn giúp giảm nguy cơ ban quản trị sẽ sử dụng lượng tiền
mặt dư thừa này để đầu tư vào những dự án làm triệt tiêu giá trị – đặc
biệt là những thương vụ thâu tóm đắt đỏ và không khôn ngoan.
Tuy nhiên khi một công ty thực
hiện mua lại cổ phiếu thì không có nghĩa là nó tuân theo nguyên tắc này.
Nhiều công ty mua lại cổ phần chỉ để tăng EPS, và, cũng giống như trong trường
hợp các vụ sáp nhập và thâu tóm, sự tăng hay pha loãng (giảm) EPS không
liên quan gì đến việc liệu thực hiện mua lại cổ phiếu có tạo ra ý
nghĩa kinh tế hay không. Khi việc đẩy giá trị của EPS lên, chứ không phải
là sự tạo ra giá trị, chi phối quyết định mua lại cổ phiếu, thì những
cổ đông bán cổ phiếu sẽ có lợi và những cổ đông không bán sẽ bị thiệt nếu công
ty mua lại những cổ phiếu được định giá cao. Đặc biệt phổ biến là các chương trình mua
lại với mục đích bù đắp cho sự pha loãng EPS từ hợp đồng quyền chọn cổ
phiếu cho nhân viên công ty. Trong những tình huống kiểu này, việc thực thi quyền
chọn, chứ không phải là việc định giá, sẽ quyết định số lượng và giá cổ
phiếu mà công ty mua.
Các công ty hoạt động vì mục
tiêu giá trị mua lại cổ phiếu chỉ khi cổ phiếu đang được giao dịch với giá
thấp hơn giá trị ước tính tốt nhất của ban quản trị và khi đó không thể tạo
ra lợi tức tốt hơn nếu đầu tư vào hoạt động của công ty. Các công ty đi theo
hướng này phục vụ lợi ích của các cổ đông không muốn chào bán cổ phiếu, các cổ
đông này sẽ thu được lời từ các cổ đông sẵn sàng chào bán, nếu như đánh
giá của ban quản trị là chính xác.
Khi cổ phiếu của một công ty đang có giá cao và việc đầu tư
vào hoạt động kinh doanh không thu được giá trị tốt về lâu dài, thì việc
chi trả cổ tức có lẽ là lựa chọn tốt nhất.
Nguyên tắc số 6: Thưởng cho các CEO và lãnh đạo cấp cao khác khi họ đạt
được lợi nhuận cao về dài hạn.
Các công ty cần đưa ra những ưu
đãi lương bổng có hiệu quả ở mọi cấp độ để tối đa hóa khả năng đạt được
lợi nhuận cao nhất. Nguyên tắc 6, 7, và 8 đề ra những định hướng phù hợp
để chi trả thù lao cho bộ phận quản trị cấp cao, cấp trung và cấp
thấp. Tôi sẽ bắt đầu với các nhà lãnh đạo cấp cao. Theo như tôi quan sát
được, hợp
đồng quyền chọn cổ phiếu đã từng được tán dương rộng rãi như là bằng
chứng của sự hướng về giá trị. Tuy nhiên, hợp đồng quyền chọn chuẩn là một phương
tiện không hoàn hảo trong việc thúc đẩy hành vi tối đa hóa giá trị về dài
hạn. Trước hết, các hợp đồng quyền chọn thông thường trả thưởng khi kết
quả kinh doanh không hẳn là vượt trội. Bằng chứng là vào những năm 1990,
trong một thị trường đang đi lên, các nhà quản lý kiếm được lời mỗi khi giá
cổ phiếu tăng, dù mức tăng có thấp hơn đáng kể so với mức thị trường hay
các đối thủ cạnh tranh của họ có được. Thứ hai là, giai đoạn sở hữu quyền chọn thường chỉ kéo dài ba hoặc bốn năm, cùng với thiên hướng
muốn bán sớm của các nhà lãnh đạo, sẽ làm suy giảm đáng kể động lực
về dài hạn mà những hợp đồng quyền chọn này đáng lẽ sẽ đem lại. Cuối
cùng là, khi
các hợp đồng quyền chọn không có giá trị, chúng sẽ không thể tạo động lực gì
nữa. Và điều đó xảy ra thường xuyên hơn là người ta tưởng. Ví dụ, khoảng
một phần ba những hợp đồng quyền chọn do các nhà lãnh đạo doanh nghiệp
Mỹ nắm giữ có giá trị thấp hơn giá thực hiện vào năm 1999, năm đỉnh cao
của thị trường đi lên. Nhưng các biện pháp được cho là để khắc phục - tăng
tiền thù lao bằng tiền mặt, cấp cổ phiếu hạn chế hoặc thêm nhiều hợp đồng
quyền chọn hơn, hay là giảm giá thực hiện các hợp đồng quyền chọn hiện có
- lại là những hành động đi ngược lại lợi ích cổ đông và làm thay đổi
các quy tắc về người quản lý trung gian.
Các công ty hoạt động vì mục
tiêu giá trị có thể khắc phục những thiếu sót của những hợp đồng quyền
chọn thông thường dành cho nhân viên bằng cách sử dụng hợp đồng quyền
chọn theo chỉ số được chiết khấu hoặc hợp đồng quyền chọn rủi ro vốn cổ
phần được chiết khấu (DERO). Hợp
đồng quyền chọn theo chỉ số chỉ thưởng cho những nhà lãnh đạo cấp cao
khi cổ phiếu của công ty có diễn biến tốt hơn so với cổ phiếu của các công ty
cùng ngành - không chỉ đơn giản là vì thị trường đang đi lên. Để mang lại
cho ban quản trị một động cơ liên tục để tối đa hóa giá trị, các công ty có
thể giảm giá thực hiện đối với hợp đồng quyền chọn theo chỉ số để các
nhà lãnh đạo có thể hưởng lợi nếu như lợi tức cổ phiếu thấp hơn
chút đỉnh so với chỉ số. Các công ty có thể giải quyết một thiếu sót khác của
hợp đồng quyền chọn thông thường - thời gian nắm giữ quá ngắn - bằng cách
kéo dài giai đoạn sở hữu quyền chọn và
yêu cầu các nhà lãnh đạo phải duy trì một tỷ lệ cổ phiếu đủ lớn trên tổng
số mà họ có được từ việc thực hiện hợp đồng quyền chọn của mình.
Đối với các công ty không thể xây
dựng được một chỉ số các công ty tương đương hợp lý, DERO là một lựa chọn phù
hợp. Giá thực thi DERO hàng năm tăng thêm một lượng bằng lợi suất đáo hạn
của kì phiếu chính phủ có kỳ hạn mười năm cộng với một phần của phần bù
rủi ro vốn cổ phần kỳ vọng trừ đi cổ tức trả cho cổ đông. Các nhà đầu tư cổ
phiếu mong đợi một mức lợi nhuận tối thiểu bằng lãi suất phi
rủi ro cộng với phần bù rủi ro vốn cổ phần. Nhưng ngưỡng này có thể khiến cho
nhiều nhà lãnh đạo phải nắm giữ những hợp đồng quyền chọn không còn giá
trị. Với việc chỉ cộng một phần của phần bù rủi ro vốn cổ
phần ước tính vào tỷ lệ tăng giá thực hiện, hội đồng quản trị sẽ đánh cược
rằng giá trị do nhà quản lý tạo thêm sẽ bù đắp cho những hợp đồng quyền
chọn tốn kém này. Cổ tức được giảm trừ ra khỏi giá thực hiện để loại bỏ
động cơ giữ lại cổ tức của các công ty khi họ không có cơ hội đầu tư tạo ra
giá trị.
Nguyên tắc số 7: Thưởng cho giám đốc đơn vị kinh doanh để làm tăng thêm
giá trị cao trong nhiều năm.
Trong khi các hợp đồng quyền
chọn thật sự hữu ích đối với các vị lãnh đạo doanh nghiệp, những
người có nhiệm vụ nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nói chung - và cuối
cùng là giá cổ phiếu, thì những hợp đồng quyền chọn như vậy lại thường
không phù hợp cho việc thưởng cho các giám đốc đơn vị kinh doanh, những
người vốn không có tác động lớn đến hiệu quả hoạt động nói chung. Giá một
cổ phiếu giảm vì hiệu quả hoạt động kém ở các bộ phận khác của công ty có thể làm các giám đốc của những đơn vị hoạt động tốt bị thiệt
thòi. Ngược lại, nếu một đơn vị kinh doanh hoạt động yếu kém nhưng giá cổ
phiếu của công ty tăng lên do kết quả hoạt động rất tốt của các đơn vị
khác, thì những vị lãnh đạo của đơn vị này không làm mà lại được hưởng lợi. Trong cả hai trường hợp việc đưa ra quyền chọn đều
không thúc đẩy các lãnh đạo để tạo ra giá trị về dài hạn. Chỉ khi các
đơn vị kinh doanh của một công ty thực sự phụ thuộc lẫn nhau thì giá cổ phiếu
mới có thể đóng vai trò như là một chỉ số công bằng và hữu ích để đánh
giá hiệu quả hoạt động.
Nhiều công ty thường có những kế
hoạch ưu đãi thường niên cũng như là dài hạn (thường là ba năm) để khen
thưởng cho các lãnh đạo cho việc vượt các chỉ tiêu về tài chính, chẳng
hạn như doanh thu và thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh, hay đôi khi
là cho việc đạt được các mục tiêu phi tài chính. Vấn đề là ở chỗ, việc
gắn tiền thưởng với chỉ tiêu kế hoạch khiến các nhà quản lý đơn vị có xu hướng đánh
giá thấp khả
năng về kết quả hoạt động của đơn vị. Điều
quan trọng hơn là, chỉ tiêu lợi nhuận cũng như là các chỉ số kế toán khác,
đặc biệt là khi chúng được sử dụng để đánh giá kết quả hàng quý và hàng
năm, lại không thật sự liên quan đến những luồng tiền trong dài hạn tạo ra
giá trị cho cổ đông.
Để tạo động lực cho một đơn vị kinh
doanh, công ty cần phát triển các tiêu chuẩn như giá trị gia tăng cho cổ
đông (SVA). Để tính toán SVA, cần áp dụng các phương thức chiết khấu tiêu
chuẩn đối với dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh đã được dự
báo, mà những dòng tiền này tăng lên do tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận hoạt
động biên, sau đó trừ đi các khoản đầu tư được thực hiện trong kỳ. Do
SVA được tính toán hoàn toàn dựa trên dòng tiền, nó không thể hiện những
méo mó về mặt kế toán, điều này mang lại cho nó một lợi thế hiển nhiên
so với các chỉ số truyền thống. Để đảm bảo rằng tiêu chuẩn này thể hiện
được kết quả hoạt động trong dài hạn, các công ty nên mở rộng giai
đoạn đánh giá kết quả hoạt động, ít nhất thì giai đoạn này phải kéo
dài ba năm. Sau đó chương trình này có thể giữ lại một phần tiền thưởng để
trang trải nếu như trong tương lai công ty hoạt động kém hiệu quả. Cách tiếp
cận này giúp loại bỏ sự cần thiết phải có hai kế hoạch bằng cách kết hợp các
kế hoạch về ưu đãi hàng năm và trong dài hạn làm một. Thay vì phải vạch ra
các ngưỡng cho hoạt động chi trả tiền thưởng dựa trên ngân sách, thì các
công ty có thể phát triển những tiêu chuẩn về kết quả hoạt động kinh doanh vượt trội cao
so với năm trước đó, so sánh với các công ty cùng loại, và thậm chí là
kỳ vọng về kết quả hoạt động kinh
doanh được thể hiện trong giá cổ phiếu.
Nguyên tắc số 8: Thưởng cho các
nhà quản lý cấp trung và nhân viên trực tiếp kinh doanh khi thu được kết quả
hoạt động kinh doanh tốt, xét trên các tiêu chí tạo ra giá trị mà họ có thể
tác động trực tiếp tới.
Mặc dù mức tăng trưởng doanh số bán
hàng, lợi nhuận hoạt động biên và chi phí vốn là những chỉ số tài chính hữu ích
cho việc theo dõi SVA của đơn vị kinh doanh, những chỉ số này lại quá
chung chung để có thể đưa ra hướng chỉ đạo hằng ngày cho các nhà quản lý
cấp trung và nhân viên trực tiếp sản xuất kinh doanh, những người cần biết cụ
thể họ phải làm gì để tăng SVA. Để có nhiều chỉ số đo lường cụ thể hơn,
các công ty có thể xây dựng các chỉ số quan trọng về giá trị mà có thể định
lượng được, nhân viên sản xuất kinh doanh hiểu rõ và có thể đóng góp trực tiếp
vào đó và những thành quả này có tác động mạnh đến giá trị lâu dài của
doanh nghiệp theo hướng tích cực. Ví dụ, có thể là thời gian để quảng bá
cho sản phẩm mới ra mắt, tỷ lệ nhân viên nghỉ việc, hoặc tỷ lệ giữ chân khách
hàng, cũng như là việc kịp thời khai trương các cửa hàng hoặc cơ sở sản xuất
mới.
Kinh nghiệm của tôi cho thấy rằng hầu hết các doanh nghiệp
đều có thể tập trung vào 3-5 chỉ số chủ chốt và nắm bắt một phần quan trọng
trong tiềm năng tạo ra giá trị về dài hạn. Quá trình xác định các chỉ số
này có thể là khó khăn, nhưng việc cải thiện kết quả dựa trên các chỉ
số này là nền tảng để đạt được SVA cao, điều đó sẽ giúp tăng giá trị
về dài hạn của cổ đông.
Nguyên tắc số 9:
Yêu
cầu các lãnh đạo cấp cao phải chịu các rủi ro về sở hữu cổ phần giống như
các cổ đông.
Hầu hết các vụ tặng hợp đồng
quyền chọn đã không thành công trong việc gắn kết lợi ích lâu dài của lãnh
đạo cấp cao với lợi ích của các cổ
đông, bởi vì lãnh đạo cấp cao
thường bán những
hợp đồng quyền chọn khi hết thời hạn hạn chế. Trong thực tế, khả năng
bán cổ phiếu sớm có thể khiến họ chú trọng vào kết quả kinh doanh trong ngắn
hạn chứ không phải giá trị trong dài hạn nhằm đẩy giá cổ phiếu.
Để gắn kết những lợi ích này hiệu quả hơn, nhiều công ty
đã áp dụng các nguyên tắc về quyền sở hữu cổ phiếu cho đội ngũ quản trị
cấp cao. Mức sở hữu tối thiểu thường được tính theo hệ số đối với mức lương cơ
bản, sau đó được chuyển đổi thành một lượng cổ phiếu nhất định. Ví dụ, nguyên
tắc của eBay buộc Tổng Giám đốc điều hành của họ sở hữu một lượng cổ
phiếu của công ty có giá trị tương đương với năm lần mức lương cơ bản theo
năm. Đối với các nhà lãnh đạo khác, con số tương ứng là ba lần tiền lương.
Các nhà quản lý cấp cao còn phải giữ một tỷ lệ cổ phần có được từ việc
thực hiện các hợp đồng quyền chọn cho đến khi họ tích lũy đủ lượng cổ
phiếu theo quy định.
Nhưng trong hầu hết các trường hợp, các kế hoạch về quyền
sở hữu cổ phiếu đều không thể làm cho các nhà lãnh đạo chịu cùng mức độ rủi
ro giống như các cổ đông. Một lý do là ở chỗ một số công ty miễn nợ cho các
khoản vay để mua cổ phiếu khi giá cổ phiếu xuống thấp, họ cho rằng thỏa
thuận này không còn mang lại động lực
cho đội ngũ quản lý cấp cao nữa. Các công ty như vậy, cũng giống như các
công ty định giá lại cho những hợp đồng quyền chọn, có nguy cơ xây dựng nên một hệ thống phân
phối lương thưởng đi ngược với tinh thần và mục tiêu của chương trình trả thu
nhập có động cơ tích cực. Một lý do khác là việc thưởng ngay cổ phiếu hạn chế, về
bản chất là các hợp đồng quyền chọn với mức giá thực hiện là $0, thường
được tính là cổ phiếu nhằm thỏa mãn mức sở hữu tối thiểu. Việc trả thưởng
bằng cổ phiếu cho những nhà lãnh đạo chủ chốt sẽ khuyến khích họ ở
lại với công ty cho đến khi sự hạn chế bị dỡ bỏ, thường trong vòng ba hoặc bốn
năm, và sau đó họ có thể bán cổ phiếu của mình. Những khoản này tạo ra một
động lực mạnh mẽ cho các CEO và nhiều nhà lãnh đạo cấp cao khác kinh doanh một
cách an toàn, bảo vệ giá trị hiện có, và tránh bị sa thải. Không có gì
ngạc nhiên khi mà, các kế hoạch chi trả cổ phiếu hạn chế thường được gọi là
"trả tiền để sống", chứ
không phải là trả tiền cho kết
quả hoạt động.
Trong một nỗ lực để đánh lạc hướng
những lời chỉ trích rằng các kế hoạch trả cổ phiếu hạn chế chẳng qua chỉ là một món đồ cho
không, nhiều công ty đưa ra kế hoạch trả cổ phiếu thưởng gắn với hiệu quả. Loại này không chỉ đòi hỏi các nhà lãnh đạo vẫn phải làm ở công ty
mà công ty cũng phải đạt được mục tiêu định trước về kết quả hoạt động
kinh doanh gắn với tăng trưởng EPS, các mục tiêu doanh thu, hay các ngưỡng
về tỷ suất hoàn vốn. Dù các cổ phiếu thưởng loại này đòi hỏi phải có
kết quả hoạt động kinh doanh đạt yêu cầu, nhưng đây lại thường không
phải là loại kết quả giúp tạo ra giá trị dài hạn bởi vì các tiêu
chuẩn thường không có liên quan chặt chẽ đến mức giá trị ấy.
Các công ty vốn đang tìm cách phối
hợp hiệu quả hơn lợi ích của các lãnh đạo công ty với lợi ích của cổ
đông cần phải cân bằng giữa ích lợi của việc yêu cầu các lãnh đạo cấp cao có
lượng cổ phần sở hữu đủ lớn và liên tục, với những hạn chế đối với họ về
tính thanh khoản và đa dạng hóa danh mục. Nếu không có những ưu đãi dựa
trên vốn cổ phần, các lãnh đạo công ty có thể trở nên sợ rủi ro quá mức
vì muốn tránh thất bại và nguy cơ bị sa thải.Tuy nhiên, nếu họ có quá nhiều
vốn cổ phần, họ cũng có thể tránh rủi ro để duy trì lợi nhuận của danh mục
đầu tư gần như không được đa dạng hóa của mình. Việc kéo dài giai đoạn
trước khi các nhà lãnh đạo có thể bán cổ phiếu có được từ việc
thực hiện hợp đồng quyền chọn và việc không đưa cổ phiếu hạn chế
được thưởng vào phép tính mức sở hữu tối thiểu chắc chắn sẽ giúp cân
bằng những rủi ro của cổ đông và của các vị lãnh đạo công ty.
Nguyên tắc số 10: Cung cấp cho
các nhà đầu tư thông tin liên quan đến giá trị.
Nguyên tắc cuối cùng này chi phối hoạt
động truyền thông liên lạc với các nhà đầu tư, chẳng hạn như các báo cáo tài
chính của công ty. Việc công bố thông tin tốt hơn không chỉ là “thuốc giải” cho
nỗi ám ảnh về lợi nhuận ngắn hạn mà còn giúp giảm bớt rủi ro cho nhà đầu tư
và do đó có khả năng làm giảm chi phí vốn cũng như là tăng giá cổ phiếu.
Một cách để thực hiện được điều này, như đã được mô tả
trong bài viết của tôi “Kinh tế học về nỗi ám ảnh đối với kết quả hoạt
động kinh doanh trong ngắn hạn” (“The Economics of
Short-Term Performance Obsession “) nằm trong ấn bản Tháng 5 & 6
năm 2005 của Tạp chí Financial Analysts Journal, là chuẩn bị một
bản báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. (Xem bảng mẫu
trong phụ mục “Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”). Báo
cáo này:
●
Phân tách dòng tiền với các khoản
dồn tích, đem lại một cơ sở tham chiếu gốc để ước lượng những triển vọng
về dòng tiền của công ty và tạo điều kiện cho các nhà phân tích đánh giá mức
độ phù hợp của những ước lượng về các khoản dồn tích.
●
phân loại các khoản dồn tích có chu
kỳ chuyển đổi tiền mặt dài theo mức độ rủi ro (trung bình và cao);
●
đưa ra một khoảng giá trị cũng
như là giá trị ước lượng có khả năng xảy ra cao nhất cho mỗi khoản dồn
tích chứ không phải chỉ đưa ra một ước lượng điểm duy nhất như xưa nay
vẫn làm, do đó bao quát được độ biến thiên rộng của các kết quả có thể xảy
ra.
●
Loại trừ các khoản dồn tích được
tùy ý xác định và không liên quan đến giá trị, ví dụ như khấu hao.
●
Đưa ra thông tin chi tiết về các giả
định và rủi ro đối với từng khoản trong khi trình bày các chỉ số kết quả hoạt
động kinh doanh quan trọng có ảnh hưởng tới giá trị của công ty.
Công bố thông tin cụ thể như vậy có thể quá tốn kém chăng?
Thực tế là các nhà lãnh đạo trong các công ty được quản lý tốt đã sử dụng
loại thông tin có sẵn trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Thật vậy, nếu thiếu những thông tin như thế, các cổ đông có thể
nghi ngờ liệu ban quản trị có nắm bắt toàn diện doanh nghiệp hay không, cũng
như là liệu HĐQT có đang thực hiện đúng trách nhiệm giám sát của mình
hay không. Trong môi trường không chấp
nhận những hành vi gian lận về kế toán như hiện nay, các công ty hướng
đến giá trị đang có một cơ hội xưa nay chưa từng có để có thể tạo ra
giá trị chỉ bằng cách cải thiện hình thức và nội dung của báo cáo công ty.
Đọc kỳ 1 tại: http://www.thekeynesian.com/2015/06/10-cach-thuc-e-tao-ra-gia-tri-cho-co.html
Đọc kỳ 1 tại: http://www.thekeynesian.com/2015/06/10-cach-thuc-e-tao-ra-gia-tri-cho-co.html

0 Response to "10 CÁCH THỨC ĐỂ TẠO RA GIÁ TRỊ CHO CỔ ĐÔNG - KỲ 2"
Đăng nhận xét