Mặc dù các công ty tuyên bố rằng họ sẽ hết lòng
vì giá trị của cổ đông nhưng lại hiếm khi tuân thủ những hoạt động
giúp tối đa hóa giá trị này. Công ty của bạn cần phải có những gì
để trở thành một công ty tạo ra giá trị ở cấp 10?
Dịch giả: Bùi Hồng Hạnh - Học viện Ngân hàng
Thẩm định: ThS Nguyễn Quang Hiếu - Đại học Ngoại thương
Dịch giả: Bùi Hồng Hạnh - Học viện Ngân hàng
Thẩm định: ThS Nguyễn Quang Hiếu - Đại học Ngoại thương
Hiện nay, việc đổ lỗi cho sự theo đuổi giá trị
của cổ đông về những yếu kém gây khó khăn cho các doanh nghiệp lớn ở Mỹ đang
trở nên phổ biến: các nhà quản lý và nhà đầu tư bị ám ảnh với
kết quả kinh doanh của quý tiếp theo, sự thất bại khi đầu tư vào tăng
trưởng dài hạn, và thậm chí là những vụ bê bối liên quan đến hoạt
động kế toán khiến
công luận chú ý. Khi các nhà lãnh đạo hủy hoại giá trị mà đáng lẽ họ phải tạo ra,
họ gần như luôn luôn biện minh rằng chính áp lực của thị trường
chứng khoán đã khiến họ buộc phải làm vậy.
Thực tế thì nguyên tắc
về giá trị của cổ đông không sai, chính công tác quản trị đã phản bội
nguyên tắc này. Ví dụ, trong những năm 1990, nhiều công ty đã đưa ra
các hợp đồng quyền chọn cổ phiếu như là một phần chính trong tiền
thù lao cho lãnh đạo. Ý tưởng này là để cho những lợi ích của ban
quản trị phù hợp với lợi ích của cổ đông. Tuy nhiên việc hào phóng
phân phát các hợp đồng quyền chọn đã thất bại trong việc thúc đẩy hành
vi hướng tới giá trị của cổ đông vì cách thiết kế các hợp đồng gần như
đã bảo đảm rằng chúng sẽ tạo ra kết quả ngược lại. Trước hết, giai đoạn sở hữu
quyền chọn (không được thực hiện quyền chọn trong giai đoạn này) tương
đối ngắn cùng với niềm tin rằng lợi nhuận ngắn hạn sẽ đẩy giá cổ
phiếu lên đã khuyến khích các nhà lãnh đạo “điều khiển” lợi nhuận,
sớm thực hiện quyền chọn, và bán cổ phiếu một cách cơ hội. Việc đẩy
nhanh giai đoạn sở hữu quyền chọn cho một CEO khi vị này sắp nghỉ hưu lại
góp thêm một động cơ nữa để chú trọng vào kết quả kinh doanh trong
ngắn hạn.
Tất nhiên là, trong phần lớn khoảng thời gian đó
người ta đã không nhận ra những hạn chế này, và công tác quản trị
doanh nghiệp đã bị xem nhẹ khi mà các nhà đầu tư chứng kiến giá cổ
phiếu tăng nhanh với tốc độ hai chữ số. Tuy nhiên, hoàn cảnh đã thay
đổi nhanh chóng trong thiên niên kỉ mới, vì các vụ bê bối về kế toán
xảy ra cùng với sự sụt giảm mạnh của thị trường chứng khoán đã
châm ngòi cho một loạt những vụ phá sản doanh nghiệp. Sự xói mòn
niềm tin của công chúng sau đó đã làm dẫn đến một phản ứng nhanh
chóng về pháp lý– đáng chú ý nhất là, việc thông qua Đạo luật
Sarbanes-Oxley vào năm 2002 (SOX), yêu cầu các công ty phải thành lập các phòng ban kiểm
soát nội bộ và
buộc các nhà lãnh đạo phải trực tiếp chịu trách nhiệm cho sự chính
xác của báo cáo tài chính. Tuy nhiên, mặc dù đã có SOX và nhiều
biện pháp khác, việc chú trọng vào kết quả kinh doanh ngắn hạn vẫn
còn xảy ra.
Như để tự bào chữa, nhiều nhà lãnh đạo cho rằng họ
không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc đi theo định hướng ngắn
hạn, trong bối cảnh chu kì nắm giữ cổ phiếu bình quân tại các quỹ
được được quản lý chuyên nghiệp đã giảm từ 7 năm vào những năm 1960 xuống
còn chưa đầy một năm trong giai đoạn hiện nay. Tại sao lại phải xem
xét lợi ích của các cổ đông dài hạn khi mà chẳng có cổ đông nào như
vậy cả? Lập luận này rất thiếu tính thuyết phục. Vấn đề không phải
là ở các kì nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu mà là phạm vi giá trị
của thị trường – số năm cần có để các dòng tiền dự kiến có thể xác thực được giá cổ phiếu. Dù các nhà
đầu tư có chú trọng quá mức vào những mục tiêu trước mắt và nắm
giữ cổ phiếu trong thời gian tương đối ngắn, giá cổ phiếu lại phản
ánh quan điểm về dài hạn của thị trường. Nhiều nghiên cứu cho thấy
cần hơn 10 năm có dòng tiền tạo ra giá trị để xác thực được giá cổ
phiếu của phần lớn các công ty. Do đó, trách nhiệm của ban quản trị
là tạo ra những dòng tiền này – tức là theo đuổi việc tối đa hóa giá
trị về dài hạn bất kể cổ đông có nắm giữ dài hạn hay ngắn hạn. Và
không ai có thể lập luận rằng sự vắng mặt của các cổ đông dài hạn
sẽ trao cho ban quản trị quyền được tối đa hóa kết quả kinh doanh
trong ngắn hạn và chấp nhận những rủi ro đe dọa đến tương lai của công ty.
Môi trường cạnh tranh, chứ không phải là danh sách cổ đông, sẽ định
hình các chiến lược kinh doanh của công ty.
Các công ty cần phải làm
gì nếu như họ nghiêm túc trong việc tạo ra giá trị? Trong bài viết này,
tôi sẽ sử dụng nghiên cứu và kinh nghiệm làm cố vấn trong mấy chục
năm của bản thân để trình bày mười nguyên tắc quản trị cơ bản về
vấn đề tạo ra giá trị; và những nguyên tắc này sẽ giúp cho bất kì
một công ty nào, vốn đã có một mô hình kinh doanh được triển khai
tốt, có thể hiện thực hóa tiềm năng của bản thân nhằm tạo ra giá
trị cho cổ đông. Mặc dù những nguyên tắc này sẽ không khiến cho bạn
đọc ngạc nhiên, việc áp dụng một số nguyên tắc đòi hỏi phải có
nhiều hoạt động trái ngược với những tiêu chuẩn phổ biến hiện nay.
Tôi cho rằng không một công ty nào – ngoại trừ Berkshire Hathaway – đang thực hiện được
tất cả các nguyên tắc này. Đó là một điều đáng tiếc đối với các
nhà đầu tư, vì như các các cổ đông của Warren Buffett đã nhận ra, bạn sẽ thu
được lợi ích rất lớn từ việc nắm giữ cổ phiếu của cái mà tôi gọi là
“công ty cấp 10” – một công ty áp dụng cả mười nguyên tắc. (Để tìm
hiểu thêm về việc áp dụng mười
nguyên tắc của Berkshire Hathaway, vui
lòng xem phân tích của Michael
Mauboussin, đồng nghiệp của tôi, trong phần phụ chú “Tiếp cận Cấp độ
10: Câu chuyện về Berkshire
Hathaway.”)
Các công ty không tuân theo nguyên tắc đầu tiên về
giá trị cổ đông này sẽ gần như không thể tuân theo những nguyên tắc
còn lại. Thật không may là, hầu hết các doanh nghiệp lại nằm
trong số này vì hầu hết các công ty đại chúng đều tham gia vào trò
chơi kì vọng lợi nhuận. Một nghiên cứu của Viện Quan hệ Cổ Đông Quốc
gia cho thấy 66% trong số 654 công ty được khảo sát đưa ra định hướng về lợi
nhuận thường xuyên cho các nhà phân tích tại Phố Wall. Một khảo sát
năm 2005 điều tra về 401 giám đốc tài chính (thực hiện bởi John Graham và
Campbell R. Harvey đến từ Đại học Duke, cùng với Shivaram Rajgopal từ
Đại học Washington) cho thấy các công ty tìm cách đạt được lợi nhuận
bằng nhiều cách chứ không chỉ bằng các mánh lới về kế toán:
Một con số khiến nhiều người bất ngờ là 80% số người được hỏi cho
biết họ sẽ giảm chi tiêu tạo ra giá trị
dành cho cho công tác nghiên cứu & phát triển, quảng cáo, hoạt
động bảo dưỡng và tuyển dụng nhằm đạt được các mốc lợi nhuận. Hơn một
nửa các nhà lãnh đạo sẽ trì hoãn một dự án mới ngay cả khi việc đó
sẽ làm mất giá trị cho cổ đông.
Việc chú trọng vào lợi nhuận có gì xấu? Trước
hết, lợi nhuận kế toán ròng không tương đương với giá trị hay những
thay đổi trong giá trị của một công ty trong kì báo cáo. Thứ hai là, doanh
nghiệp đánh mất giá trị khi họ đầu tư với lãi suất thấp hơn chi phí
vốn (đầu tư quá mức) hoặc không đầu tư vào những cơ hội tạo ra giá
trị (đầu tư quá ít) trong nỗ lực nhằm thúc đẩy lợi nhuận ngắn hạn.
Thứ ba là, việc báo cáo các khoản lợi nhuận đẹp đẽ bằng các quyết định
hủy hoại giá trị hay khai thác tối đa chuẩn mực kế toán tới mức giới hạn rồi cuối
cùng sẽ để lại hậu quả nghiêm trọng cho các công ty. Những công ty
không thể đáp ứng kì vọng của nhà đầu tư được nữa cuối cùng sẽ hủy
hoại một phần đáng kể, nếu không phải là tất cả, giá trị thị
trường của mình. WorldCom, Enron, và
Nortel Networks là những ví dụ điển hình.
Nguyên tắc số 2: Đưa ra các
quyết định nhằm tối đa hóa giá trị kỳ vọng, dù phải hạ thấp mức
lợi nhuận ngắn hạn.
Các công ty tìm cách “điều
khiển” lợi nhuận nhất định sẽ không tuân thủ nguyên tắc cốt yếu thứ
hai này. Quả thật, phần lớn các công ty đánh giá và so sánh các
quyết định chiến lược xét về tác động ước tính đối với mức lợi
nhuận báo cáo trong khi đáng lẽ họ nên đo lường tác động đó so với
giá trị tăng thêm kỳ vọng của các dòng tiền trong tương lai. Giá trị
kỳ vọng là giá trị bình quân gia quyền của một loạt các tình huống
có thể xảy ra. (= ∑ giá trị của mỗi tình huống x xác suất xảy ra
tình huống đó). Một bản phân tích chiến lược tốt do các đơn vị kinh
doanh của một công ty đưa ra cần phải có câu trả lời cho ba câu hỏi
sau: Một là, các chiến lược khác nhau ảnh hưởng tới giá trị như thế
nào? Hai là, chiến lược nào có khả năng tạo ra giá trị lớn nhất? Ba
là, đối với chiến lược được chọn, độ nhạy của giá trị của tình
huống có khả năng xảy ra cao nhất đối với những chuyển đổi tiềm
tàng trong động lực cạnh tranh cũng như là trong các giả định về
vòng đời công nghệ của sản phẩm, môi trường pháp lý, và các biến số
có liên quan khác là như thế nào?
Tại cấp doanh nghiệp, các nhà lãnh đạo cũng phải
giải quyết ba câu hỏi sau: Liệu có đơn vị kinh doanh nào có đủ tiềm năng
tạo ra giá trị đáng để rót thêm vốn hay không? Đơn vị nào có tiềm năng
hạn chế và do đó cần phải được tái cơ cấu hay bị loại bỏ? Và cần
phối hợp các khoản đầu tư trong các đơn vị kinh doanh như thế nào để
có khả năng tạo ra giá trị tổng thể cao nhất?
Nguyên tắc số 3: Thực hiện các vụ thâu tóm giúp
tối đa hóa giá trị kì vọng, dù phải hạ thấp mức lợi nhuận ngắn
hạn.
Các công ty thường tạo ra phần lớn giá trị thông
qua các hoạt động sản xuất kinh doanh thường nhật, nhưng một thương vụ
thâu tóm lớn có thể tạo ra hoặc triệt tiêu giá trị nhanh hơn bất kỳ
một hoạt động nào khác của doanh nghiệp. Với mức tiền mặt cao và
mức nợ tương đối thấp, nhiều công ty có xu hướng dùng các thương vụ
sáp nhập và thâu tóm (M&A) ngày càng nhiều để cải thiện vị thế
cạnh tranh của mình: thông cáo về các thương vụ M&A toàn cầu đã
vượt mức 2.7 nghìn tỉ đô la trong năm 2005.
Các công ty (thậm chí
những công ty đã tuân thủ Nguyên tắc số 2 xét về các khía cạnh khác)
và những ngân hàng đầu tư của họ thường xem xét hệ số giá/thu nhập
của các thương vụ thâu tóm có thể so sánh được cũng như là ảnh
hưởng tức thì của hệ số thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) để đánh
giá tính hấp dẫn của một thương vụ. Họ nhìn nhận sự tăng lên về EPS
như là một tin tốt và sự pha loãng (giảm) là tin xấu. Khi xét đến
các vụ sáp nhập sử dụng phương thức hoán đổi cổ phần, sự chú
trọng chỉ vào EPS sẽ gợi thêm một vấn đề nữa nằm ngoài những hạn
chế thông thường về lợi nhuận. Bất cứ khi nào hệ số giá / thu nhập
(P/E) của bên mua lớn hơn của bên bán, thì EPS tăng. Điều ngược lại
cũng đúng. Nếu như hệ số P/E của bên bán thấp hơn của bên mua thì EPS
sẽ giảm. Trong cả hai trường hợp, EPS đều không cho ta biết tiềm năng
làm tăng giá trị về dài hạn của thương vụ này.
Các quyết định hợp lý về thương vụ M&A được
dựa trên khả năng tạo ra giá trị, chứ không phải là ảnh hưởng tức
thì của EPS đối với chúng, và đây chính là cơ sở cho nguyên tắc thứ
3 về tạo giá trị. Nhà quản lý cần phải xác định rõ ràng vị trí,
thời điểm, và cách thức để có thể đạt được lợi tức thực thông qua
ước tính giá trị hiện tại của dòng tiền gia tăng sau đó trừ đi chi
phí cho vụ thâu tóm.
Ban giám đốc và Hội đồng quản trị hướng đến giá
trị cũng thận trọng đánh giá rủi ro khi sự cộng hưởng có thể không
diễn ra như dự kiến. Họ nhận thức được khó khăn của việc tích hợp sau
sáp nhập cũng như là khả năng các đối thủ cạnh tranh sẽ không để yên
khi mà bên mua cố gắng tạo ra sự cộng hưởng gây bất lợi cho các đối
thủ cạnh tranh đó. Nếu khả năng về tài chính cho phép, bên mua, vốn
tự tin rằng giá trị cộng hưởng có được sẽ lớn hơn chi phí thâu tóm,
sẽ trả tiền mặt để các cổ đông của mình không phải chia sẻ bất kì
khoản lợi tức nào mà họ kì vọng có được từ vụ sáp nhập cho các cổ
đông của bên bán. Nếu nhà quản lý không chắc chắn là liệu thương vụ
này có tạo ra sự cộng hưởng hay không, họ có thể đề phòng bằng
cách đề nghị hoán đổi cổ phiếu. Điều này sẽ làm giảm các khoản lỗ
tiềm tàng đối với các cổ đông của bên mua bằng cách pha loãng quyền
sở hữu của họ trong công ty sau sáp nhập.
Nguyên tắc 4: Chỉ tích trữ
những tài sản giúp tối đa hóa giá trị
Nguyên tắc thứ tư này đưa quá trình tạo ra giá trị lên
một cấp độ mới vì nó định hướng sự lựa chọn mô hình kinh doanh mà các công
ty hoạt động vì mục tiêu giá trị sẽ áp dụng. Có hai phần liên quan đến
nguyên tắc này.
Trước hết, các công ty hoạt động vì mục tiêu giá
trị thường xuyên theo dõi xem liệu có người mua nào sẵn sàng trả một cái
giá cao hơn giá trị ước tính của dòng tiền cho công ty để có được các đơn
vị kinh doanh, thương hiệu, bất động sản, và các tài sản có thể sang nhượng khác hay không. Một phân tích như vậy rõ ràng khó được chấp
nhận trong những đơn vị kinh doanh đang hoạt động tương đối tốt so với kế
hoạch hoặc so với các đối thủ cạnh tranh, nhưng hiển nhiên là chúng sẽ
có giá trị hơn nếu nằm trong tay của người khác. Tuy nhiên, việc không khai
thác các cơ hội như vậy có thể làm tổn hại nghiêm trọng giá trị của cổ đông.
Một
ví dụ gần đây là Kmart. Quỹ Đầu tư ESL, một quỹ đầu tư phòng vệ do Edward
Lampert quản lý, đã giành quyền kiểm soát Kmart với số tiền dưới 1 tỷ USD
khi công ty này được bảo hộ phá sản vào năm 2002, khi đó giá cổ phiếu của
Kmart được giao dịch ở mức dưới $1. Lampert đã bù đắp gần như toàn bộ khoản
đầu tư của mình bằng cách bán các cửa hàng cho Home Depot, Sears, và Roebuck.
Ngoài ra, ông đã đóng cửa các cửa hàng hoạt động yếu kém, tập trung vào mức
sinh lời bằng cách giảm mức đầu tư và hàng tồn kho, đồng thời loại bỏ hình
thức bán thanh lý hàng tồn xưa nay của Kmart. Đến cuối năm 2003, cổ phiếu
được giao dịch ở mức khoảng $30; trong năm sau tăng lên đến $100; và, trong
một thương vụ được công bố vào tháng 11 năm 2004, các cổ phiếu này đã
được sử dụng để thâu tóm Sears. Các cổ đông trước đó của Kmart đều có
quyền hỏi tại sao ban quản trị trước đây lại không thể phục hưng công ty
theo cách tương tự như thế, và tại sao họ lại phải thanh lý cổ phần của
mình với giá rất thấp.
Thứ
hai là, các công ty có thể giảm vốn và gia tăng giá trị bằng hai cách: chú
trọng vào các hoạt động tạo ra giá trị gia tăng cao (chẳng hạn như nghiên
cứu, thiết kế và marketing), những lĩnh vực mà họ có lợi thế so sánh và
thuê ngoài những hoạt động tạo ra giá trị gia tăng thấp (như sản xuất) khi
mà những doanh nghiệp khác có thể thực hiện các hoạt động này một cách
đáng tin cậy nhưng với chi phí thấp hơn. Những ví dụ điển hình gồm có Apple
Computer, sản phẩm iPod của công ty này được thiết kế ở Cupertino,
California, và được sản xuất tại Đài Loan; cùng với các công ty khách sạn như
Tập đoàn khách sạn Hilton hay Marriott International, họ quản lý các
khách sạn mà không sở hữu chúng. Và rồi có mô hình bán hàng trực tiếp cho
khách hàng của Dell, tức là một mô hình kinh doanh máy tính được lắp ráp
theo yêu cầu của khách hàng. Mô hình này giúp giảm thiểu nguồn vốn mà
công ty cần để đầu tư vào hệ thống bán hàng và phân phối, cũng như là sự
cần thiết phải dự trữ hàng tồn kho và đầu tư vào cơ sở sản xuất.

0 Response to "10 CÁCH THỨC ĐỂ TẠO RA GIÁ TRỊ CHO CỔ ĐÔNG - KỲ 1"
Đăng nhận xét