TẬP ĐOÀN APPLE 2012 - KỲ 1

Ngày 5 tháng 10 năm 2011, Steve Jobs qua đời vì ung thư. Khi còn đương nhiệm vị trí CEO của tập đoàn Apple, ông đã đưa Apple từ một công ty đang trên bờ vực phá sản thành một trong những công ty lớn và tạo ra nhiều lợi nhuận nhất trên thế giới. 

Dịch giả: Phạm Hồng Hạnh - Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội

Thẩm định: ThS Nguyễn Quang Hiếu - Đại học Ngoại thương
Hơn nữa, ông đã tạo ra những cuộc cách mạng cho một số ngành công nghiệp trên lộ trình này. Rất ít công ty có câu chuyện thành công được gắn liền với tên tuổi vị CEO của mình như vậy. Sự ra đi của Jobs hứa hẹn sẽ mở ra một kỉ nguyên mới tại Apple. Vị CEO mới, Tim Cook, đứng trước một thách thức vô cùng lớn: làm sao để giữ vững thành công hiện tại của Apple trong lĩnh vực máy tính, máy nghe nhạc MP3, điện thoại, và máy tính bảng, trong khi vẫn phải đưa Apple lên một tầm cao mới.

Công ty bắt đầu với tên “Apple Computer”, nổi tiếng với sản phẩm máy tính cá nhân Macintosh vào khoảng những năm 1980-1990. Tuy trở thành một thương hiệu mạnh, phát triển nhanh, lợi nhuận cao vào cuối những năm 1980, Apple gần như phá sản vào năm 1996. Rồi Jobs nhảy vào cuộc, biến Apple Computer thành “Apple Inc” (Tập đoàn Apple), với những sản phẩm tân tiến không phải máy tính cá nhân (non-PC products), bắt đầu vào đầu những năm 2000. Thực tế, Apple coi mình như một “công ty thiết bị di động”. Đến năm 2011, doanh thu của Macintosh chỉ chiếm gần 20% tổng thu 108 tỉ USD của Apple (Bảng 1a tới 1c: thông tin tài chính, doanh thu ròng và doanh thu theo đơn vị). Trong khi đó, cổ phiếu của Apple cũng tạo nên lịch sử. Apple trở thành công ty có giá trị nhất trên thế giới năm 2012 (Bảng 2: Giá cổ phiếu Apple theo thời gian).

Bằng bất kì cách đo lường nào, những gặt hái của Apple trong thập kỉ trước là vô cùng ngoạn mục. Nhưng Cook hiểu rằng không có một công ty nào trong ngành công nghệ có thể ngơi nghỉ. Thách thức luôn hiện hữu. Ví dụ, doanh số kinh doanh của iPod đã giảm liên tục trong suốt 4 năm cho đến 2012. Trong cùng thời gian đó, Microsoft giới thiệu Window 8, hệ điều hành hãng kì vọng sẽ thách thức sự thống trị của Apple trong mảng tương tác người dùng (user interface). Mặc dù doanh số của Macintosh tăng nhanh hơn mức trung bình của ngành những năm gần đây, thị phần của Apple trong thị trường máy tính cá nhân vẫn ở dưới mức 5% từ năm 1997 (Bảng 3: thị phần máy tính cá nhân của Apple trên toàn thế giới). Nhiều người cũng nghi ngại vào triển vọng phát triển của công ty khi thiếu vắng Jobs. Cook, nguyên là giám đốc tác nghiệp dưới thời Jobs, đã xây dựng một chuỗi cung ứng vô cùng đáng nể, nhưng ông đến với vai trò CEO với những kĩ năng rất khác biệt. Cuối cùng, liệu iPhone có tiếp tục thống trị mảng điện thoại thông minh khi mà nó đang đối mặt sự cạnh tranh càng ngày càng gay gắt từ các công ty như Google hay Samsung? Liệu sáng chế mới nhất của Apple, iPad, vẫn tiếp tục chiếm lĩnh thị trường máy tính bảng, hay liệu những đối thủ mới, từ Amazon đến Samsung, sẽ lấy đi thị phần và làm giảm lợi nhuận của Apple không?

LỊCH SỬ APPLE

Steve Jobs và Steve Wozniak ở tuổi đôi mươi đã bỏ đại học, thành lập Apple Computer vào ngày Cá Tháng Tư năm 1976. Làm việc trong gara của gia đình Jobs tại Los Altos, California, họ đã tạo ra một bảng mạch máy tính với cái tên Apple I. Trong vài tháng, họ đã làm được 200 chiếc và có một đối tác mới là A.C. “Mike” Markkula Jr., với cương vị một doanh nhân giàu kinh nghiệm, đã đóng vài trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư mạo hiểm cho công ty,. Jobs tâm niệm mang dòng máy tính dễ sử dụng đến với thị trường, do đó Apple II ra đời vào tháng 4 năm 1978. Sự kiện này khởi đầu cho một cuộc cách mạng điện toán, thúc đẩy ngành công nghiệp máy tính cá nhân đạt doanh thu hàng năm 1 tỉ USD trong vòng chưa đến ba năm. Apple nhanh chóng dẫn đầu, bán được hơn 100,000 Apple II, tính đến hết năm 1980. Vào tháng 12 năm 1980, Apple đã phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu thành công.

Vị trí cạnh tranh của Apple đã cơ bản thay đổi vào năm 1981 khi IBM nhảy vào thị trường máy tính cá nhân. Dòng máy tính cá nhân IBM , sử dụng hệ điều hành DOS của Microsoft và bộ vi xử lý (CPU) của Intel, là một hệ tương đối  “mở” cho phép các nhà sản xuất khác có thể sao chép lại được. Trái lại, Apple thực hiện tích hợp theo cả chiều dọc và ngang. Hãng dựa vào thiết kế của riêng mình, và từ chối cấp bản quyền phần cứng cho bên thứ ba.

Máy tính cá nhân của IBM không chỉ dành được nhiều thị phần hơn mà còn tạo ra một tiêu chuẩn mới cho ngành công nghiệp này. Apple đáp trả bằng việc tung ra Macintosh vào năm 1984. Sản phẩm này của Apple đã tạo nên sự đột phá trong việc dễ dàng sử dụng, thiết kế công nghiệp và rất tao nhã. Tuy nhiên, tốc độ xử lý chậm và sự thiếu hụt phần mềm phù hợp của Mac đã giới hạn doanh số. Thu nhập ròng của Apple giảm xuống 62% từ năm 1981 đến 1984, đẩy công ty đến khủng hoảng. Jobs, người thường được coi là “linh hồn” của công ty, bị buộc phải ra đi vào năm 1985. Sau vụ “lật đổ” ở Hội đồng quản trị, John Sculley, giám đốc điều hành được Jobs mời về từ Pepsi-Cola nhờ kĩ năng marketing, được nắm quyền toàn bộ.

NHỮNG NĂM CỦA SCULLEY, 1985-1993

Sculley đưa Mac vào thị trường mới, đáng chú ý là trong kỹ thuật chế bản điện tử và  giáo dục. Thị trường chế bản điện tử được thống trị bởi một vài phần mềm vượt trội như: Aldus (sau đó là Adobe) PageMaker, và các thiết bị ngoại vi như máy in laser Trong giáo dục, Apple nắm giữ hơn một nửa thị trường. Thị phần toàn cầu của Apple phục hồi và ổn định ở mức khoảng 8% (Bảng 3a). Đến năm 1990, Apple đã có 1 tỷ USD tiền mặt và trở thành công ty máy tính cá nhân đạt lợi nhuận lớn nhất trên thế giới.

Apple mang đến cho khách hàng một giải pháp tổng thể cho máy tính để bàn, bao gồm phần cứng, phần mềm, và các thiết bị ngoại vi cho phép chúng chỉ đơn giản là “cắm và dùng” (plug and play). Apple cũng nổi trội vì tự thiết kế sản phẩm của mình từ con số không, sử dụng những con chip, ổ cứng, và màn hình riêng biệt. Những chiếc máy tính tương tự IBM đã thu hẹp cách biệt trên tiêu chí dễ sử dụng vào năm 1990 khi Microsoft tung ra Windows 3.0. Tuy vậy, theo một nhà phân tích, “phần lớn người sử dụng sản phẩm của IBM và các hãng tương tự đều hài lòng khi sử dụng thiết bị của hãng, song khách hàng của Apple rất “yêu” Mac của họ.

Nhờ có nhiều khách hàng trung thành với Macintosh, Apple có thể bán sản phẩm của hãng với giá rất cao. Những chiếc Mac hàng đầu lên đến 10,000 USD, và lợi nhuận gộp ở mức đáng ghen tị, khoảng 50%. Tuy nhiên, khi mà giá của các sản phẩm tương tự IBM giảm đáng kể, Mac trở nên quá đắt khi đem ra so sánh. Các máy tương tự IBM với vị trí dẫn đầu về thị phần đã thu hút đại đa số những ứng dụng mới. Thêm nữa, cấu trúc chi phí của Apple cũng khá cao: 9% doanh thu chi cho R&D, so với 5% của Compaq, và chỉ 1% của các nhà sản xuất “sao chép” IBM. Sau khi trở thành giám đốc công nghệ (CTO) vào năm 1990, Sculley cố gắng đưa Apple đi theo xu thế chung, trở thành nhà sản xuất máy tính chi phí thấp để hấp dẫn số đông khách hàng ở thị trường bình dân. Ví du, Mac Classic có giá 999 đô la, được thiết kế để đấu với các sản phẩm “sao chép” IBM giá thành thấp.Sculley cũng chọn cách hợp tác với đối thủ chính của mình, IBM. Họ cũng đã hợp tác với nhau trong hai dự án; dự án thứ nhất là để tạo ra một hệ điều hành máy tính cá nhân mới, và một dự án nữa nhắm đến các ứng dụng đa phương tiện. Apple cũng thực hiện một dự án hợp tác khác với Novell và Intel để thiết kế lại hệ điều hành Mac sử dụng chip Intel có tốc độ xử lý nhanh hơn. Những dự án đó, đi cùng với tham vọng mang lại một sản phẩm “đỉnh” cứ mỗi 6-12 tháng, dẫn đến một cuộc tấn công tổng lực trong ngành công nghiệp máy tính cá nhân. Tuy vậy, lợi nhuận gộp biên của Apple giảm còn 34%, thấp hơn 14 điểm so với mức trung bình 10 năm của công ty. Vào tháng 6 năm 2013, chủ tịch Michael Spindler đã thế chỗ Sculley.

NHỮNG NĂM CỦA SPINDLER VÀ AMELIO, 1993-1997

Spindler xóa sổ kế hoạch đưa chip Intel vào hệ điều hành Mac và tuyên bố Apple sẽ cấp phép một số công ty để làm nên những bản sao cho Mac. Ông cố gắng giảm chi phí, bao gồm cả việc cắt 16% lực lượng lao động của Apple, và đẩy mạnh tăng trưởng quốc tế. Năm 1992, 45% doanh thu của Apple đến từ bên ngoài nước Mĩ. Dù với tất cả các nỗ lực đó, Apple vẫn mất đi vị thế của mình: theo kết quả điều tra năm 1995 của Computerworld, không ai trong số những người dùng Windows có ý định mua Apple, trong khi hơn một nửa người dùng Apple muốn mua máy tính cá nhân có bộ vi xử lý của Intel (Bảng 4: sự vận chuyển và cơ sở thiết lập vi xử lý máy tính cá nhân). Giống như người tiền nhiệm, Spindler đặt nhiều hi vọng vào một hệ điều hành đột phá sẽ thay đổi vận mệnh công ty. Nhưng đến cuối năm 1995, Apple và IBM đều rút khỏi các dự án đầu tư đó. Sau khi tiêu tốn 500 triệu USD, không bên nào muốn chuyển sang công nghệ mới. Sau khoản thua lỗ 69 triệu USD vào quí 1 năm 1996, Apple bổ nhiệm CEO mới, Gilbert Amelio - một thành viên hội đồng quản trị.

Amelio khẳng định Apple sẽ quay lại với chiến lược giá cao để phân biệt sản phẩm. Tuy vậy, doanh thu Macintosh vẫn giảm khi Apple thất bại trong việc tạo ra hệ điều hành mới, vượt trội hơn Windows 95. Vào tháng 12 năm 1996, Amelio thông báo sáp nhập công ty phần mềm NeXT (công ty Jobs lập nên sau khi rời Apple) và kế hoạch phát triển hệ điều hành mới dựa trên NeXT. Jobs cũng trở lại Apple với vai trò cố vấn bán thời gian. Dù đã cắt giảm thêm nhân công và nỗ lực tái cơ cấu, Apple, dưới thời Amelio lãnh đạo, đã mất 1,6 tỷ USD và thị phần toàn cầu của công ty tụt xuống khoảng 3% (Bảng 3a). Đã có lúc, những người trong cuộc thậm chí còn tin rằng Apple sẽ phá sản trong khoảng 90 ngày nữa. Để cứu công ty, Jobs trở thành CEO lâm thời vào tháng 9, năm 1997.

STEVE JOBS VÀ SỰ HỒI SINH CỦA APPLE

Jobs hành động nhanh chóng để định hình lại Apple. Vào tháng 8 năm 1997, Apple thông báo rằng Microsoft sẽ đầu tư 150 triệu USD vào Apple và kí cam kết 5 năm về việc phát triển các sản phẩm cốt lõi, như Microsoft Office cho Mac. Jobs đã đột ngột cho tạm dừng chương trình cấp phép Macintosh. Gần 99% các khách hàng mua các phiên bản sao chép của hãng vẫn là những người dùng Mac, việc này ăn vào chính lợi nhuận của Apple. Jobs cũng từ chối cấp phép cho hệ điều hành Mac mới nhất. Chuỗi sản xuất gồm 15 dòng sản phẩm của Apple được cắt giảm xuống còn 4 loại – máy tính để bàn và các thiết bị di động Macintosh, cho người dùng thông thường và dân chuyên nghiệp. Những nỗ lực cải tổ khác bao gồm kí hợp đồng thuê các công ty lắp ráp Đài Loan để sản xuất các sản phẩm Mac, và cải tạo hệ thống phân phối, từ các cửa hàng nhỏ trở thành những chuỗi cung ứng toàn quốc. Tim Cook, được Jobs mời về năm 1998, trước đó là chuyên gia vận hành của Compaq, IBM, và Intelligent Electronics, là người đã đóng cửa các nhà máy Apple và sắp xếp hợp lý hóa chuỗi cung ứng của Apple. Thêm nữa, Apple thiết lập trang web cho phép trực tiếp bán hàng qua mạng lần đầu tiên. Trong nội bộ, Jobs tập trung vào phục hồi năng lực đổi mới sáng tạo. Apple cắt giảm một lượng đáng kể hàng tồn kho và tăng chi cho R&D 

Jobs mang đến văn hóa mới cho Apple. Trong khi những CEO tìm cách mở rộng các hạng mục sản phẩm, Jobs lại tin tưởng mạnh mẽ vào sự tập trung chuyên sâu. Apple từng là một công ty có ít dòng sản phẩm nhất khi đem ra so sánh với các công ty cùng quy mô. Jobs cũng tin vào việc giữ bí mật, bao gồm cả “chính sách đóng cửa” ở đó một thẻ chỉ có thể vào được một số khu vực nhất định và một số vị trí không quan trọng sẽ dành cho nhân viên mới trong công ty cho đến khi họ được tin tưởng. Mọi người biết rằng nếu vi phạm nguyên tắc bảo mật trong văn hóa của Apple sẽ bị đuổi việc ngay lập tức. Mọi nhân viên đều thỏa mãn khi được làm việc với Jobs, nhưng thường rất khó khăn. Jobs đã nói rằng: “Tôi không nghĩ rằng tôi quá nghiêm khắc với mọi người, nhưng nếu có điều gì xảy ra, tôi sẽ không ngần ngại nói thẳng”. Jobs đã từng chia sẻ: “Đam mê của tôi là gây dựng nên một công ty lâu dài, nơi mọi người có động lực để sáng tạo ra những sản phẩm lớn lao. Những thứ khác chỉ là thứ hai”. Jobs đặc biệt hứng thú với phong cách thiết kế công nghiệp, đơn giản mà tao nhã.

Hướng tiếp cận này đưa Jobs đến sự táo bạo đầu tiên – iMac – được giới thiệu tháng 8, năm 1998. Chiếc máy tính tất cả-trong-một giá 1,299 USD đặc trưng với những chiếc hộp kính mờ nhiều màu sắc và thiết kế vỏ trứng độc đáo. Chiếc iMac cũng được hỗ trợ các thiết bị ngoại vi “cắm và dùng” như máy in, những thiết bị lần đầu được thiết kế cho các máy tính dùng hệ điều hành Windows. Nhờ có iMac, doanh thu của Apple đã lần đầu tiên vượt mức trung bình của ngành sau nhiều năm. Cùng với sự trở lại của Jobs, Apple thông báo lãi 309 triệu USD vào năm tài khóa 1998, đảo ngược hoàn toàn tình hình lỗ 1 tỷ USD của năm trước đó.

Một nhiệm vụ trọng tâm khác của Jobs là phá vỡ hình ảnh uể oải và hoen ố của Apple. Jobs muốn Apple trở thành một hiện tượng văn hóa. Có lẽ không phải ngẫu nhiên Jobs vẫn giữ vị trí giám đốc điều hành của Pixar - một công ty về đồ họa hoạt hình mà ông mua vào năm 1986. (Jobs sau đó bán Pixar cho Walt Disney với giá 7,4 tỉ USD vào năm 2006). Qua các chiến dịch marketing tốn hàng triệu USD như chương trình quảng cáo thành công “Think Different” (“Suy nghĩ khác biệt”) và khẩu hiệu quảng cáo lôi cuốn “The ultimate all-in-one design” (“Tất cả trong một thiết kế kiệt xuất”), “It just works” (“Đơn giản, nó vận hành”), Apple tự quảng bá hãng như một sự thay thế hợp thời của các thương hiệu máy tính khác. Các quảng cáo của Apple cũng được đăng trên các tạp chí thời trang thịnh hành, không còn bó hẹp trong các tạp chí chuyên ngành về máy tính. Sau đó, Apple nhấn mạnh rằng máy tính của họ là “dòng sản phẩm máy tính xách tay xanh nhất” trên thế giới, với việc sử dụng hiệu quả năng lượng và sử dụng các vật liệu có thể tái chế được. Mục tiêu là làm cho Macintosh khác biệt trong một ngành công nghiệp máy tính cá nhân đầy cạnh tranh.

NGÀNH CÔNG NGHIỆP MÁY TÍNH CÁ NHÂN

Trong khi Apple đi tiên phong trong việc sản xuất các thiết bị máy tính “cá nhân”, IBM là công ty đã đưa những chiếc máy tính cá nhân vào xu thế lớn vào những năm 1980. Nhưng đến đầu những năm 1990, một tiêu chuẩn mới, được biết đến với cái tên “Wintel”( hệ điều hành Windows kết hợp với bộ xử lý Intel) thống lĩnh ngành công nghiệp máy tính. Hàng ngàn nhà sản xuất – từ hãng máy tính Dell đến các hãng không tên tuổi- tạo ra các máy tính cá nhân dựa trên tiêu chuẩn từ Microsoft và Intel. Giá rẻ và năng lực điện toán không ngừng nâng cao là yếu tố làm nên sự phát triển của ngành. Toàn ngành tiếp tục phát triển bùng nổ trong suốt những năm đầu 2000, được thúc đẩy nhờ nhu cầu về Internet và các thị trường mới nổi như Trung Quốc. Mặc dù tăng trưởng về quy mô chậm lại trong thập kỉ tiếp theo, các nhà phân tích vẫn dự đoán rằng sẽ có hơn 2 tỷ chiếc máy tính cá nhân sẽ được sử dụng trên toàn thế giới vào năm 2015.

Tốc độ tăng trưởng doanh thu chậm là hệ quả của sự thu hẹp về quy mô. Dù các máy tính cá nhân hoạt động nhanh hơn, với bộ nhớ và dung lượng lưu trữ lớn hơn, giá bán trung bình (APS-Average Selling Price) giảm trung bình 8%-10% mỗi năm, từ đầu những năm 1990 đến 2005. Tốc độ giảm giá bán trung bình chậm lại trong khoảng 2006 đến 2011 với tỉ lệ trung bình 2% mỗi năm. Đến năm 2011, tỉ suất lợi nhuận ròng biên trung bình của các hãng sản xuất máy tính cá nhân, trừ Apple, chỉ còn 5%. Việc các cấu phần được tiêu chuẩn hóa giúp các nhà sản xuất máy tính cá nhân có thể cắt giảm chi tiêu cho R&D xuống còn 1% đến 3% tổng doanh thu (Bảng 5). Do ngày càng có nhiều hợp đồng sản xuất được kí kết với Đài Loan và Trung Quốc, các công ty Châu Á chịu trách nhiệm nhiều cải tiến hơn, ví dụ như các thiết kế công nghiệp. Các sản phẩm máy tính cá nhân mới cũng nổi lên. Máy tính xách tay bắt đầu có được thi phần vào cuối những năm 1980. Ba thập kỉ sau, những chiếc máy tính cá nhân di động này chiếm 60% số máy tính cá nhân được bán trên toàn cầu. Nhu cầu máy tính xách tay gia tăng đi liền với việc giá cả giảm: giá bán trung bình của một máy tính xách tay có giá khoảng 746 USD vào năm 2011, rớt giá 25% chỉ trong ba năm.

Một dòng sản phẩm khác là máy tính xách tay cỡ nhỏ (netbook) phát triển trong khi nền kinh tế thế giới rơi vào suy thoái năm 2009. Các notebook nhỏ nhẹ có dung lượng bộ nhớ giới hạn được và được tối ưu hóa khả năng truy cập Web. Những khách hàng nhạy cảm với giá rất thích thú với mức giá trung bình khoảng 400 USD. Quan tâm ban đầu tới dòng sản phẩm này là rất lớn: có trên 40 triệu netbook được bán ra vào năm 2009. Nhưng sự nổi lên của iPad vào năm 2010 đã dẫn đến một sự suy giảm nhanh chóng. Tuy vậy một dòng laptop mới, Ultrabook, vẫn được đưa vào thị trường vào năm 2011. Chúng là những chiếc notebook siêu mỏng, siêu nhe, chạy hệ điều hành Windows, và có hiệu năng sử dụng cao. Chúng được các nhà sản xuất kì vọng sẽ thúc đẩy nhu cầu mới và thúc đẩy chu kì thay thế sản phẩm cũ khi giá cả sụt giảm.

NGƯỜI MUA VÀ CHUỖI PHÂN PHỐI

Người mua máy tính cá nhân được chia làm 5 loại: gia đình, kinh doanh vừa và nhỏ, công ty lớn, giáo dục, và chính phủ. Khách hàng gia đình là phân khúc lớn nhất, chiếm gần một nửa các doanh số máy tính cá nhân toàn cầu. Tất cả khách hàng đều quan tâm đến giá, nhưng các khách hàng gia đình thì còn đề cao thiết kế, tính linh động, và khả năng kết nối không dây, các khách hàng doanh nghiệp có sự cân đối giữa giá cả với dịch vụ, hỗ trợ đi kèm và khách hàng trong ngành giáo dục chủ yếu quan tâm đến các phần mềm sẵn có.
Trong chuỗi cung ứng, đầu những năm 1990 đã có một sự chuyển dịch lớn khi nhiều khách hàng mua máy tính cá nhân giàu hiểu biết rời bỏ các nhà buôn với dịch vụ trọn gói và chuyên bán các thương hiệu nổi tiếng cho các nhà quản lý doanh nghiệp. Các công ty lớn mua trực tiếp từ nhà sản xuất, trong khi các gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ mua máy tính cá nhân từ các siêu thị bán lẻ lớn (Walmart, Costco), hay các chuỗi bán lẻ điện tử (BestBuy), và các cửa hàng bán lẻ trên Web. Trong cùng thời gian đó, kênh “white box” (hộp trắng) – được các doanh nghiệp địa phương lắp đặt các thiết bị– là một kênh bán máy tính cá nhân lớn, đặc biệt là ở các thị trường mới nổi. Máy tính cá nhân hộp trắng (white-box PC) chiếm khoảng 30% toàn thị trường vào năm 2011, và thường được bán cho các văn phòng nhỏ hoặc văn phòng hộ gia đình.

NHÀ SẢN XUẤT MÁY TÍNH CÁ NHÂN

Bốn nhà sản xuất máy tính hàng đầu – HP, Dell, Lenovo, và Acer – chiếm 53.6% doanh số toàn cầu năm 2011. Ngôi đầu trong ngành công nghiệp này đã bao lần thay đổi trong ba thập kỉ trước, và HP hiện đang giữ vị trí đó. Trải qua thời kì khó khăn sau khi mua lại Campaq Computer năm 2002, HP đã thuê các công ty Châu Á gia công hầu hết quy trình sản xuất, nhờ đó giảm đáng kể chi phí sản xuất. Nhưng vị trí đi đầu trong sản xuất máy tính cá nhân của HP đi kèm với cái giá cao: kể từ năm 2005, thị phần HP giảm dần, tỉ suất lợi nhuận giảm, HĐQT công ty đã phải sa thải ba vị giám đốc điều hành. HP dự định bán và thoát ra khỏi ngành PC vào năm 2011, nhưng sau đó đã hủy bỏ. Tuy nhiên, HP vẫn đang giữ vị trí số một về doanh số toàn cầu, đạt 17.7%.

Dell năm giữ thị phần lớn thứ hai thế giới với 12.6% tổng doanh số máy tính cá nhân năm 2011. Sự khác biệt trong cách kết hợp bán hàng trực tiếp và sản xuất theo đơn hàng đã giúp hãng được ưa chuộng trong phân khúc khách hàng doanh nghiệp trong vòng mười năm. Nhưng khi thị trường máy tính cá nhân dành cho phân khúc khách hàng lẻ tăng đột biến, vượt xa doanh số phân khúc khách hàng doanh nghiệp, Dell đã không kịp đón bắt nhu cầu. Nhà sáng lập Michael Dell trở lại vị trí CEO vào tháng một năm 2007 nhấn mạnh vào sản phẩm thân thiện với người dùng, quay trở lại chuỗi phân phối bán lẻ, và đẩy mạnh mở rộng quốc tế. Dẫu vậy, Dell vẫn gặp khó khăn trong kiểm soát chi phí và tỉ suất lợi nhuận còn  thấp. Hãng sản xuất Trung Quốc Lenovo có đường đi khá lòng vòng để lọt vào danh sách dẫn đầu khi mua lại mảng kinh doanh máy tính cá nhân đang thua lỗ của IBM với giá 1.75 tỷ USD. Xu hướng phát triển trong năm 2011 còn tiếp tục khi thị phần của Lenovo tăng lên 12.5%. Thế mạnh lớn nhất của Lenovo là vị trí thống trị ở Trung Quốc - thị trường máy tính cá nhân tăng trưởng nhanh nhất thế giới, nơi hãng kiểm soát 35% thị phần. Năm 2007, công ty Đài Loan Acer mua Gateway - một hãng máy tính cá nhân hàng đầu của Mỹ, và trở thành công ty máy tính cá nhân lớn thứ ba thế giới. Acer cũng mua lại Packard-Bell, một nhà sản xuất máy tính cá nhân có vị thế đáng kể tại EU (Acer cũng là thương hiệu dẫn đầu tại đây). Thành công của Acer dựa một phần vào sự đi đầu trong mảng netbook, nhưng công ty để mất vị trí thứ ba này cũng bởi doanh số netbook sụt giảm.

NHÀ CUNG ỨNG, BÔ SUNG, VÀ THAY THẾ

Nhà cung ứng của ngành máy tính cá nhân chia làm hai loại: những công ty sản xuất các phụ kiện như thẻ nhớ, ổ đĩa, và bàn phím từ nhiều nguồn; và những công ty sản xuất với chỉ vài nguồn nguyên liệu (thường là bộ vi xử lý, và hệ thống điều hành). Sản phẩm loại một rất sẵn có và giá thành vô cùng cạnh tranh. Sản phẩm loại hai thì được cung cấp chủ yếu bởi hai tập đoàn: Intel và Microsoft.

Bộ vi xử lý

Bộ vi xử lý, hay CPUs là “bộ não” phần cứng của PC. Intel chiếm lĩnh khoảng 80% thị trường CPU PC. Sự cạnh tranh nổi lên vào những năm 1990 từ những công ty như Advanced Micro Devices (19,6% trong quý bốn năm 2011) và VIA Technologies (0.1% vào quí bốn năm 2011). Intel vẫn giữ vị trí đi đầu trên thị trường với công nghệ hiện đại, qui mô sản xuất và thương hiệu mạnh. Kể từ năm 1970, giá CPU (đã điều chỉnh cho sự thay đổi về sức mạnh điện toán) đã giảm trung bình 30% mỗi năm. Hiệu năng của các CPU tiếp tục tăng gấp đôi cứ sau khoảng 18 đến 24 tháng, nhưng giá bộ vi xử lý thì vẫn giữ ổn định trong những năm gần đây. Tuy nhiên, ARM - một CPU ít tiêu thụ năng lượng, giá thành thấp nhưng vận hành kém hơn dùng trong các điện thoại thông minh được kì vọng sẽ thâm nhập vào thị trường máy tính cá nhân vào năm 2012.

Hệ điều hành

Hệ điều hành là một phần mềm quản lý các nguồn lực và hỗ trợ các ứng dụng của PC. Microsoft chiếm lĩnh thị trường này kể từ thời máy PC IBM những năm 1980. Hơn 90% tổng PC trên thế giới chạy các phiên bản của Windows. Sản phẩm thành công nhất trong thiên niên kỷ mới của Microsoft là Windows XP. Ra mắt vào tháng 10 năm 2001, 17 triệu bản XP đã được bán chỉ trong 8 tuần đầu. Phát triển với chi phí 1 tỷ USD, XP ban đầu đã mang lại cho Microsoft doanh thu từ 45 USD đến 60 USD trên một bản.Vista, phiên bản kế tiếp được giới thiệu vào năm 2007, đã không thành công lắm . Khách hàng phàn nàn việc phiên bản vận hành kém trơn tru và còn ngần ngại nâng cấp lên phiên bản Vista này. Hai năm sau, Windows 7 được tung ra và nhận được nhiều phản hồi tốt. Giới phân tích ước tính Microsoft chi 1.5 tỷ USD để phát triển Windows 7 và 1 tỷ USD nữa cho marketing. Microsoft đã bán 100 triệu hệ điều hành mới trong vòng 6 tháng đầu năm, biến nó trở thành hệ điều hành bán chạy nhất trong lịch sử. Năm 2012, Microsoft đặt nhiều kì vọng vào sản phẩm thế hệ mới, Windows 8. Được mong chờ trình làng vào mùa thu năm 2012, hệ điều hành này bao gồm giao diện người dùng mới, có thể kết hợp phương thức “chạm cảm ứng”, có thể dùng trên cả máy tính cá nhân và máy tính bảng. Microsoft cũng thiết kế Windows 8 có thể chạy được trên cả CPU của Intel và không của Intel (ARM). Tuy nhiên, Windows 8 trên ARM chưa thể tương thích được với các phần mềm Windows hiện có.

Phần mềm ứng dụng, nội dung và sản phẩm bổ sung

Giá trị của chiếc máy tính phụ thuộc trực tiếp vào các phần mềm hỗ trợ, nội dung và phần cứng đang có trên nền tảng đó. Những phần mềm ứng dụng chính bao gồm soạn thảo văn bản, đồ họa trình chiếu, xuất bản điệnt tử và duyệt Internet. Kể từ đầu những năm 1990, số lượng ứng dụng trên các PC tăng mạnh, trong khi giá bán trung bình các phần mềm PC rớt thê thảm. Microsoft là công ty phần mềm lớn nhất cho máy tính cá nhân dạng Wintel, và Apple cũng giữ vai trò như thế với Macs. Các công ty như Google thậm chí còn cung cấp các phần mềm miễn phí (Google Apps). Nội dung lựa chọn phong phú và một lượng lớn các phần cứng kèm theo, từ máy in đến các thiết bị đa phương tiện khác cũng đã hỗ trợ đắc lực cho các PC. Số lượng các ứng dụng PC mới và nổi bật tăng chậm đáng kể trong những năm gần đây, bởi các nhà phát triển phần mềm ngày càng chú trọng đến các thiết bị mới, như điện thoại và máy tính bảng.

Công nghệ thay thế

Kể từ đầu những năm 2000, sản phẩm công nghệ tiêu dùng (CEP-Consumer Electronics Products), từ điện thoại di động cho đến thiết bị kết nối TV hay thiết bị chơi game, đều bắt đầu tích hợp các chức năng giống như những chiếc PC. Ví dụ, thiết bị chơi game như Sony PlayStation 3 cho phép người dùng có thể xem DVD, lướt Web, và chơi game trực tuyến lẫn game truyền thống. Cùng với đó, điện thoại thông minh ngày càng có nhiều chức năng như những chiếc“máy tính cầm tay”, cho phép người dùng quản lý thư điện tử, truy cập các trang web, và kiểm soát thông tin về đời sống ảo. Dù xâm nhập thị trường từ những năm 1980, máy tính bảng vẫn chưa có sân riêng cho mình cho đến khi iPad xuất hiện vào năm 2010. Doanh số của máy tính bảng tăng vọt đến hơn 60 triệu chiếc được bán trong năm 2011. Trong khi những người trong cuộc lo lắng về tác động của các thiết bị số lên ngành PC, thì Jobs lại xem các thiết bị đó như một phần của chiến lược tổng hợp nhằm đưa đến cho người dùng những trải niệm chưa từng có. 

0 Response to "TẬP ĐOÀN APPLE 2012 - KỲ 1"

Đăng nhận xét

Xem nhiều nhất

Xem nhiều nhất trong tháng