TẬP ĐOÀN APPLE 2012 - KỲ 2


Năm 2001, trong lễ kỉ niệm 25 năm thành lập Apple, Jobs nêu ra tầm nhìn về việc đưa Macintosh trở thành “trung tâm số”. Ông tin tưởng rằng Macintosh tạo thuận lợi thực sự cho khách hàng - những người đang sống theo “phong cách số”, sử dụng máy ảnh kĩ thuật số, máy nghe nhạc di động, và dùng webcam số, chưa kể đến điện thoại di động.


MACINTOSH VÀ CHIẾN LƯỢC "TRUNG TÂM SỐ" CỦA APPLE

Năm 2001, trong lễ kỉ niệm 25 năm thành lập Apple, Jobs nêu ra tầm nhìn về việc đưa Macintosh trở thành “trung tâm số”. Ông tin tưởng rằng Macintosh tạo thuận lợi thực sự cho khách hàng - những người đang sống theo “phong cách số”, sử dụng máy ảnh kĩ thuật số, máy nghe nhạc di động, và dùng webcam số, chưa kể đến điện thoại di động. Mac có thể là một “trung tâm” để kiểm soát, tích hợp, và nâng tầm giá trị cho các thiết bị kể trên. Jobs coi việc Apple kiểm soát cả về phần cứng và phần mềm, rất ít công ty còn làm như vậy, là một thế mạnh đặc trưng.

Apple cuối cùng đã tái cơ cấu chuỗi sản phẩm của công ty để mang đến những thiết bị với công nghệ tuyệt hảo và trải niệm được tích hợp. Mặc dù công ty vẫn chú trọng đến thị trường giáo dục, những sản phẩm PC mới vẫn hướng đến phong cách sống của những khách hàng gia đình. Doanh số bán máy tính của Apple tăng nhanh hơn mức trung bình ngành. Nhờ chiến thuật marketing sáng tạo và những sản phẩm công nghệ cải tiến như Mac Air siêu mỏng, Apple trở thành hãng PC thứ ba trên đất Mỹ với 11% thị phần vào quí bốn năm 2011. Thế mạnh lớn nhất của công ty nằm ở phân khúc PC cao cấp. 91% PC có giá trên 1000 USD trên thị trường Mỹ là của Apple. Trên trường quốc tế, thị phần của Apple tăng đều đặn từ năm 2004, nhưng vẫn ở mức dưới 5% đến cuối năm 2011.

THAY ĐỔI MACINTOSH

Để thực hiện tầm nhìn của mình, Jobs tạo ra bốn sự thay đổi lớn trong Macintosh: Ông đưa vào hệ điều hành mới; chuyển sang một cấu trúc chip mới; phát triển một bộ các ứng dụng độc quyền; và đánh cược vào Apple Store. Đầu tiên, và có lẽ là tối quan trọng, Apple tung ra hệ điều hành mới vào năm 2001, một nền tảng được đại tu toàn diện lần đầu tiên kể từ năm 1984. Mac OS X dựa trên UNIX – hệ điều hành ổn định và mạnh hơn, được giới chuyên gia máy tính ưa dùng. Giới phân tích ước tính rằng OS X tiêu tốn của Apple khoảng 1 tỷ USD để phát triển. Apple cũng cho ra mắt các phiên bản nâng cấp cứ 12-18 tháng, một tần suất cao hơn Microsoft. Qua thời gian, Apple dần kết nối hệ điều hành trên máy tính với hệ điều hành của điện thoại và các thiết bị số khác.

Thứ hai, từ đầu những năm 1990, Apple thiết kế Macs với CPU của IBM, lấy tên là PowerPC. Năm 2006, Jobs đầu tư lớn để chuyển Apple sang chip Intel. Đến năm sau đó, toàn bộ sản phẩm của Macintosh chạy trên Intel.(42) Điểm tối quan trọng trong sự hồi sinh của Mac là chip Intel giúp Apple có thể tạo ra những chiếc máy tính xách tay chạy nhanh hơn và tiêu thụ ít năng lượng hơn.(43) Đến năm 2011, phân khúc notebook đã chiếm 72% (44) toàn bộ doanh số Macintosh, so với mức 38% của 9 năm trước. Với “Intel Inside”, Mac có thể chạy Microsoft Windows và các ứng dụng Windows khác. Khả năng này giúp Mac khắc phục được những tồn tại trong thời gian dài – sự khan hiếm các phần mềm cho Macintosh.

Yếu tố thứ ba trong chiến lược của Mac là phát triển bộ ứng dụng độc quyền sở hữu . Xây dựng các chương trình như bộ iLife (iPhoto, iTunes, iWeb) đòi hỏi Apple phải đầu tư chi phí phát triển lớn. (45) Cùng thời gian đó, công ty tiếp tục phụ thuộc vào các công ty phần mềm hoạt động độc lập – đặc biệt là Microsoft. Vào năm 2003, sau khi Apple phát triển trình duyệt Web riêng - Safari, Microsoft tuyên bố sẽ không tiếp tục phát triển IE cho Mac nữa. Tuy nhiên, Microsoft vẫn tiếp tục phát triển bộ ứng dụng Office cho Macintosh. Khả năng tương thích toàn diện với các ứng dụng Office là vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại Macintosh. Jobs tuy vậy vẫn phòng vệ bằng cách phát triển ứng dụng văn phòng iWork, bao gồm Pages, Keynote, và Numbers.

Miếng ghép cuối cùng trong toàn bộ “thế trận” của Jobs là chiến lược phân phối mới. Cửa hàng bán lẻ Apple đầu tiên được mở tại McLean, Virginia, vào năm 2001. Apple không muốn khách hàng chỉ ngắm nghía những thiết kế Macintosh bắt mắt, mà còn muốn họ trực tiếp sử dụng và trải nghiệm các phần mềm của Apple. Những trải nghiệm tại chuỗi cửa hàng bán lẻ này giúp nhiều khách hàng lần đầu tiên được khám phá về dòng sản phẩm của Macintosh. Đến năm 2011, công ty ước tính hơn một nửa toàn bộ doanh số bán lẻ của Mac là từ đối tượng khách hàng mới. Bộ phận bán lẻ– với hơn 300 cửa hàng trên 13 quốc gia – tạo ra 13% tổng doanh thu cho Apple. Các nhà quan sát nhận thấy chiến lược bán lẻ của Apple thu được thành quả vô cùng to lớn: Một nhà phân tích nhận định công ty đã trở thành “Nordstrom của giới công nghệ”. Hầu hết các nhà phân tích tin tưởng rằng sự phổ biến của các sản phẩm đa phương tiên như iPod, iPhone, và iPad là mấu chốt đưa khách hàng đến với các cửa hàng và tìm đến Mac.

BƯỚC CHUYỂN ĐẰNG SAU MACINTOSH

Việc Apple chuyển sang chiến lược trung tâm số bắt nguồn từ khi cho iPod trình làng năm 2001, sau đó là iPhone 2007, và rồi là iPad 2010. Trong khi việc kinh doanh Macintosh đã có những bước chuyển biến, thì chính sự ra đời của iPod lại mở đường cho sự phát triển bùng nổ của tập đoàn. Jobs hướng tới sự đơn giản khi sản xuất iPod: ông cho rằng “để sản xuất được chiếc iPod thực sự dễ sử dụng – và tôi phải mất nhiều công sức thuyết phục đội ngũ của mình về điều này – chúng ta cần phải giới hạn khả năng một thiết bị có thể làm. Thay vào đó, chúng tôi đã tích hợp nhiều tính năng trong phần mềm iTunes trên máy tính…Vì thế mà, khi có phần mềm iTunes và máy iPod, chúng ta có thể để máy tính và các thiết bị vận hành đồng bộ, và chúng ta sẽ làm những việc phức tạp hơn trên máy tính.

iPod mới đầu chỉ là một máy nghe nhạc số di động, dựa trên tiêu chuẩn MP3. Nhờ có thiết kế đẹp, tương tác đơn giản, và bộ nhớ lớn, nó sớm trở thành “biểu tượng cho Thời Đại Số”. Trong khi những máy nghe nhạc MP3 ban đầu chỉ lưu trữ được dung lượng nghe trong một giờ, chiếc iPod đầu tiên có thể chứa được 1000 bài hát, và được bán lẻ với giá 399 USD. Sau nhiều năm sau đó, Apple liên tục đưa ra những thiết kế tân tiến mới. Năm 2012, Apple tiếp tục nắm giữ hơn 70% thị trường MP3 của Mỹ.

Tính kinh tế của iPod rất đáng kinh ngạc nếu so với tiêu chuẩn của ngành công nghiệp điện tử tiêu dung. Ví dụ: iPod Nano, có lợi nhuận gộp biên khoảng 40% năm 2007. Chi tiết đắt nhất của iPod Nano là bộ nhớ flash - có thể chiếm đến hơn một nửa giá tổng nguyên liệu. Hiểu rõ được tầm quan trọng của bộ nhớ flash, Apple đổ vốn vào nhiều nhà sản xuất thẻ nhớ để đảm bảo có giá đầu ra là tốt nhất. Đến năm 2012, Apple là một trong những nhà thu mua bộ nhớ flash lớn nhất trên thế giới.

Cách thức phát triển và marketing iPod của Apple cởi mở hơn so với chiến lược áp dụng cho Macintosh. iPod có thể đồng bộ hóa với Windows và Mac. Apple cũng tạo ra hệ sinh thái với thị trường phụ kiện cho iPod từ các vỏ bọc thời trang cho đến các chân sạc. Cứ mỗi 3 đô la bỏ ra khi mua một chiếc iPod, người dùng sẽ chi thêm 1USD cho các sản phẩm đính kèm iPod.(54)Trong khi iPod sẵn hàng cho mọi phân khúc giá, giá bán trung bình của iPod  thường cao hơn các đối thủ từ 50 USD đến 100 USD.(55)Về phần cứng, hầu hết các thiết bị chơi nhạc đều tương đương các mẫu iPod. Nhưng các đối thủ ngày càng gặp bất lợi lớn khi iTunes Store của Apple xuất hiện.

iTunes

Hai chức năng tạo ra khác biệt của iPod là phần mềm iTunes - giúp đồng bộ iPod với máy tính, và iTunes Music Store, được mở vào tháng tư năm 2003. Sự kết hợp của hai yếu tố trên hoàn tất tầm nhìn Apple về một trung tâm giải trí. iTunes Store là cửa hàng số hợp pháp đầu tiên cho phép người dùng tải nhạc và trả tiền theo bài hát. Người dùng trả 0.99 USD cho mỗi bài hát được cung cấp bởi cả 5 hãng thu âm lớn và hàng ngàn hãng nhạc hoạt động độc lập. Các bài hát được tải có thể nghe trên máy tính, ghi ra đĩa CD, hoặc chuyển vào iPod. Chỉ trong vòng ba ngày ra mắt dịch vụ, người dùng PC đã tải xuống hơn 1 triệu bản phần mềm miễn phí iTunes và trả tiền mua 1 triệu bài hát. Việc khách hàng rất hài lòng với kho nhạc khổng lồ và việc dễ dàng trong sử dụng đã biến iTunes Store thành kho nhạc số một thế giới. Đến tháng mười năm 2011, nó bán được 16 tỷ bài hát và có danh mục nhạc lớn nhất thế giới. Hãng cũng mở rộng sang sách nghe, podcast, sách, phim, và chương trình TV.

iTunes Store ra đời có tác động vô cùng lớn đến doanh số iPod. Trong quý trước khi iTunes được tung ra , Apple chỉ bán được 78000 chiếc iPod. Sau khi iTunes xuất hiện, doanh số iPod tăng đột biến lên đến 304000 chiếc trong chỉ một quý và tiếp tục tăng mạnh sau đó. iTunes không giúp Apple thu lời đáng kể khi những bài hát được định giá chỉ 0.69USD, 0.99USD hay 1.29USD mỗi lượt tải về. Nhiều nội dung và ứng dụng còn được miễn phí. Trung bình, khoảng 70% số tiền Apple thu được từ mỗi lượt tải về được chuyển về các hãng âm nhạc, khoảng 20% để trả phí giao dịch bằng thẻ tín dụng. Apple chỉ còn được thu khoảng 10% số tiền cho một lượt tải về, đủ cho hãng chi cho trang web của hãng cũng như các chi phí trực tiếp và gián tiếp khác. Về bản chất, Jobs tạo ra một mảng kinh doanh giống như bán dao cạo râu và lưỡi dao, chỉ có vai trò được đảo ngược: nhân tố biến đổi (bài hát) đóng vai trò chịu lỗ để hướng khách hàng mua sản phẩm bền vững có lợi nhuận cao.

Mặc dù thành công trên iTunes, quan hệ của Apple với các công ty về nội dung vẫn còn khá căng thẳng. Các công ty này không muốn chấp nhận vị trí thống trị của hãng trên thị trường âm nhạc kĩ thuật số. Các hãng nhạc cũng phải chứng kiến những CD giá cao của mình bị ế ẩm, thay vào đó khách hàng chọn tải nhạc giá rẻ về. Trong khi Apple đạt tỉ suất lợi nhuận lớn trong mảng phần cứng, thì lợi nhuận các công ty về nội dung lại giảm dần trong thế giới số.

Cạnh tranh

Các kho nhạc online như Amazon.com, Napster, và Walmart.com đưa ra giá rẻ và mức giảm giá nhiều hơn so với iTunes khi tải từng bài hát. Một số còn có sản phẩm thuê bao đăng kí không giới hạn lượt nghe, khởi điểm với mức 5USD/tháng. Hầu hết các đối thủ đưa đến các bài hát có thể nghe được trên nhiều thiết bị, bao gồm cả iPod. Ngoài các dịch vụ streaming nhạc, iPod cũng phải đối mặt với các thách thức khác. Những trang web cho phép nghe đài trên Internet như Pandora, cho nghe nhạc streaming miễn phí. Spotify cho phép người dùng tạo ra danh mục bài hát riêng rồi chia sẻ, và có thể nghe nhạc streaming miễn phí như một máy nghe nhạc MP3 ảo. Trong một số thị trường, các hãng nhạc kiếm được nhiều tiền từ Spotify hơn là iTunes. Đến tháng tư năm 2012, hầu hết các hãng điều hành nhạc streaming đã đưa ra gói nghe nhạc không giới hạn với giá 9.99 USD/tháng.

Ngoài sự cạnh tranh, Apple cũng lo ngại về nhu cầu dành cho iPod trong tương lai. Jobs đã có hai hành động ứng phó với những mối nguy trên: Năm 2009, ông mua Lala.com - một dịch vụ nhạc streaming. Thương vụ này đã rấy lên những nghi ngờ rằng Apple muốn phát triển một mô hình mới để lưu trữ và chơi nhạc số, bỏ qua luôn việc tải nhạc về thiết bị. Và tất nhiên, tháng 6 năm 2007, ông cho ra mắt iPhone. Jobs sau đó đã nhận ra rằng: “Nếu bạn không ăn chính mình, người khác sẽ làm điều đó”.

iPhone

Vào tháng 1 năm 2007, tại Macworld, Jobs cho ra mắt iPhone, và nói rằng: “Mỗi khi một  sản phẩm mang tính cách mạng ra đời sẽ làm mọi thứ thay đổi. Hôm nay, chúng tôi sẽ giới thiệu ba sản phẩm như thế. Sản phẩm thứ nhất là chiếc iPod màn hình rộng với điều khiển cảm ứng. Sản phẩm thứ hai là một chiếc điện thoại di động mang tính cách mạng. Và sản phẩm thứ ba là một thiết bị kết nối Internet đột phá... Đó không phải là ba thiết bị riêng biệt, nó là một thiết bị, và chúng tôi gọi nó là iPhone.” Xuất hiện trong mục “Phát minh của năm” trên tạp chí Time, iPhone là nỗ lực nhằm “ tái phát minh điện thoại” của Apple. Phải mất hai năm rưỡi để phát triển chiếc điện thoại này, dưới sự bảo mật nghiêm ngặt ngay cả với các nhân viên trong công ty. Chi phí phát triển ước tính khoảng 150 triệu USD.

Nhảy vào thị trường điện thoại di động được xem là bước đi đầy rủi ro của Apple. Lúc đó, Nokia, Motorola và Samsung đã thống lĩnh khoảng 60% thị phần. Thêm vào đó, vòng đời sản phẩm lại ngắn (trung bình khoảng 6 đến 9 tháng) và công nghệ khá phức tạp, có cả công nghệ vô tuyến mà Apple có khá ít kinh nghiệm. Trong mảng phân phối, Apple đối mặt với những đối thủ hùng mạnh như T-Mobile và Vodafone – vốn kiểm soát mạng di độngthường là cả điện thoại di động trong mạng. Ở Mỹ, hai nhà mạng lớn nhất – Verizon Wireless và AT&T – tổng cộng nắm giữ hơn 60% thị phần, và mạng di động bị “khóa”: điện thoại của AT&T chỉ sử dụng được mạng AT&T. Đặc biệt, tại Mỹ, nhà sản xuất điện thoại cầm tay thường trông chờ vào khoản trợ giá từ nhà mạng để có thể giảm giá bán thiết bị mới khoảng $250 hoặc hơn nữa. Đổi lại, hầu hết các khách hàng sẽ kí một hợp đồng dịch vụ hai năm với nhà mạng. Các nmạng cũng vẫn “khoanh vùng”, cho phép khách hàng chỉ được tiếp cận thông tin trong chính mạng của họ. Cạnh tranh về giá là vô cùng gay gắt ở các thị trường mới nổi như Trung Quốc và Ấn Độ, ở đó khách hàng có thể mua những chiếc điện thoại di động với giá thấp hơn $100 khá nhiều.

Trong thời kì đầu, khi mà điện thoại di động chỉ để gọi, người dùng lựa chọn chủ yếu dựa vào kiểu dáng và nhà cung cấp dịch vụ. Bắt đầu vào giữa những năm 1990, thị hiếu chuyển sang những chiếc điện thoại với nhiều điểm đặc trưng như thiết kế phần cứng bắt mắt, khả năng tương tác dễ dàng, và đi đầu là Nokia. Các tính năng đa phương tiện như máy ảnh cũng được tích hợp thêm. Sau đó, điện thoại thông minh nổi lên vào thập kỉ tiếp theo. Dòng điện thoại cao cấp này  tích hợp đa chức năng trong kích thước vừa gọn trong lòng bàn tay, chúng vừa có thể sử dụng như một chiếc điện thoại di động, một trình duyệt Internet, thư điện tử , thiết bị làm việc, và là một thiết bị giải trí nghe nhìn.

Tuy nhiên, iPhone đã thay đổi luật chơi của toàn ngành. Màn hình cảm ứng tương tác 3.5 inch đột phá giúp người dùng sử dụng chỉ bằng những cái chạm tay thay vì phải dùng bàn phím gõ tay. Toàn bộ hệ thống của iPhone chạy trên phiên bản cơ sở hệ điều hành OS X đặc biệt của Apple - iOS. Trên hết, người dùng thấy nó rất dễ sử dụng. Mẫu đầu tiên có giá 499 USD cho bản 8GB. Vào thời điểm đó, những chiếc điện thoại có giá trên 300USD chỉ chiếm có 5% doanh thu. Apple thời điểm đầu chỉ bán iPhone thông qua một nhà mạng duy nhất trên hầu hết các thị trường. AT&T, nhà mạng độc quyền của iPhone tại Mỹ khi sản phẩm được tung ra đã không có trợ giá gì cả. Thay vào đó, AT&T đồng ý một hợp đồng chia doanh thu chưa từng có trong tiền lệ với Apple, theo đó cho phép Apple kiểm soát toàn bộ hệ thống phân phối, giá cả và thương hiệu.

iPhone thế hệ thứ nhất bán được hơn 6 triệu chiếc trong vòng 5 quý. Tuy nhiên, hơn 1 triệu máy được bán ở “thị trường xám”, ở đó khách hàng mua iPhone từ các đại lý không được nhượng quyền và sử dụng chúng trên các mạng không chính thống. Việc Apple đòi hỏi chia sẻ doanh thu dịch vụ khiến chỉ có vài thị trường trên thế giới có thể phân phối iPhone hợp pháp.  Người ta ước tính rằng Apple có thể mất 1 tỷ USD trong vòng 3 năm do hình thức chia doanh thu với hãng dịch vụ.(68)

Mẫu iPhone thứ hai được tung ra vào năm 2008. Phiên bản này chạy trên mạng 3G, nhanh hơn thế hệ trước. Quan trọng hơn, Apple đã cách tân mô hình giá. Nhà mạng trợ giá cho điện thoại, đổi lại sẽ giảm mức thỏa thuận chia doanh thu, và một số gói trợ giá lên đến 400 USD hoặc hơn cho mỗi chiếc điện thoại. Vài năm sau đó, Apple cứ 12-15 tháng lại tung ra một mẫu iPhone nâng cấp và mở rộng phân phối. Cùng với sự ra mắt của iPhone 4S vào tháng 10 năm 2011, Apple đã giới thiệu Siri - công nghệ trợ lý giọng nói được Apple mua vào năm 2010. Với Siri, người dùng có thể đọc ghi văn bản, đặt cuộc hẹn, đặt câu hỏi, và gửi email nhờ điều khiển bằng giọng nói.

Quan hệ giữa Apple với các nhà mạng cũng thay đổi. Trên hầu hết các thị trường trên thế giới, Apple chuyển từ một nhà mạng duy nhất sang nhiều nhà mạng cùng bán iPhone. Khi Apple liên kết thêm với những nhà mạng mới, hãng cũng đặt những yêu cầu rất cao: ví dụ như Sprint phải kí một hợp đồng 4 năm trị giá 15 tỷ USD với Apple khi hãng cam kết sẽ bán được ít nhất 24 triệu chiếc iPhone. Với mỗi dòng sản phẩm mới xuất hiện, Apple đều hạ giá những dòng sản phẩm cũ. Những gói trợ giá lớn, giá thấp cho mẫu sản phẩm cũ cùng với chuỗi phân phối được mở rộng khiến doanh thu và số lượng sản phẩm được bán tăng mạnh. Kết quả là Apple Samsung cùng tranh vị trí thị phần lớn nhất trong mảng điện thoại thông minh. Giới phân tích cũng dự tính Apple tạo ra hơn 50% lợi nhuận của toàn ngành điện thoại di động chỉ với không quá 4% thị phần.

Quay lại những ngày đầu của Apple, Jobs luôn muốn kiểm soát được những công nghệ quan trọng nhằm tạo ra sự khác biệt cho Apple. Để nắm quyền kiểm soát lớn hơn đối với các thiết bị di động, Jobs mua 2 công ty thiết kế bộ vi xử lý ARM với giá khoảng 400 triệu USD trong khoảng thời gian 2008 - 2010. iPhone 4 là chiếc điện thoại đầu tiên chạy bằng bộ xử lý của chính Apple – vi xử lý A4. Sau đó, iPhone 4S sử dụng bộ vi xử lý thế hệ kế tiếp A5 do Samsung sản xuất và được tối ưu hóa để đáp ứng yêu cầu khắt khe của Apple về tuổi thọ pin và hiệu suất máy.

Giới phân tích cũng ước tính rằng Apple yết giá bán buôn trung bình là 659 USD trên một chiếc iPhone của hãng, trong khi giá bán trung bình các đối thủ phần cứng gần tương tự chỉ trong khoảng 250 USD đến 350 USD. Giá các chi tiết thành phẩm giảm cùng với thiết kế được cải tiến làm giảm tổng chi phí sản xuất iPhone.  Một nghiên cứu đã chứng minh rằng mẫu điện thoại 16GB mới nhất của hãng có chi phí nguyên vật liệu chỉ dưới 188 USD. Chiếc iPhone đầu tiên với nửa lưu lượng bộ nhớ có giá khoảng 220 USD. Động lực khiến Apple giảm chi phí luôn là một điều đáng tranh cãi. Apple đã là một trong số những khách hàng lớn nhất của Foxconn, Trung Quốc. Sau nhiều vụ tự tử của công nhân Foxconn, Apple đã tài trợ cho một nghiên cứu của Hiệp hội lao động công bằng (FLA), ở đó đã chỉ ra các vi phạm nghiêm trọng  các quy tắc của FLA cũng như luật lao động Trung Quốc. Cook cam kết hành động nhanh chóng buộc các nhà thầu phụ của Apple tuân thủ.

Sau 4 năm xuất hiện, iPhone đã chiếm 44% tổng doanh thu Apple. Ở nhiều nước như Trung Quốc, doanh số bán iPhone mới chỉ tăng vọt trong năm 2012: thậm chí không có trợ giá, khách hàng Trung Quốc vẫn sẵn sàng mua iPhone với giá gần 1000 USD. Khi các quốc gia như Trung Quốc hay Ấn Độ chuyển sang mạng 3G nhanh hơnsau là mạng 4G, nhu cầu  điện thoại thông minh được kì vọng sẽ còn tiếp tục tăng nhanh.

App Store                 

Một động lực quan trọng đằng sau sự thành công của iPhone là sự ra đời của Apple App Store vào năm 2008. Các ứng dụng phần mềm cho thiết bị kĩ thuật số hỗ trợ cá nhân (PDA)điện thoại thông minh đã có nhiều năm, nhưng Apple App Store là sản phẩm đầu tiên có thể dễ dàng phân phối, truy cập và tải về các ứng dụng trực tiếp trên điện thoại. Nhiều ứng dụng được miễn phí, ngay cả những ứng dụng phải trả tiền chỉ khởi điểm với giá 0.99USD. App Store được giới thiệu là một phần của iTunes – công cụ đã có rất nhiều người đang sử dụng. Các nhà phát triển phần mềm cũng chào đón App Store bởi Apple giúp họ dễ dàng tiếp cận khách hàng hơn. Apple nắm quyền phê duyệt các ứng dụng và giữ 30% doanh thu bán phần mềm từ  các nhà phát triển. 

App Store trở nên phổ biến mạnh mẽ. Trong vòng 18 tháng đầu tiên, có đến 4 tỷ lượt tải về ứng dụng này trên toàn thế giới.Đến tháng 5 năm 2012, hơn 585000 ứng dụng trong nhiều danh mục, từ trò chơi cho đến các chương trình phục vụ hoạt động kinh doanh. Walt Mossberg của tờ Wall Street cho rằng: “App Store làm cho thiết bị bạn dùng đáng đồng tiền bỏ ra”. Những ứng dụng trên di động đã trở thành một mảng kinh doanh rất tốt của Apple. Trong năm tài khóa 2011, Apple đạt doanh thu 6.3 tỷ USD từ việc bán nhạc, sách và các ứng dụng. Cùng với đó, Apple cũng trả hơn 4 tỷ USD cho các nhà phát triển phần mềm, với 25 tỷ lượt tải về ứng dụng trên iPhone, iPod và iPad.

ĐỐI THỦ CẠNH TRANH      

Tương tự như những gì xy đến với thị trường máy tính cá nhân, đối thủ cạnh tranh của Apple chia làm hai loại chính : chiều ngang và chiều dọc. Các nhà sản xuất như Samsung Electronics, HTC, LG Electronics và Motorola được coi là đối thủ chiều ngang, khi họ hệ điều hành bản quyền tự xây dựng phần cứng. Đối thủ cạnh tranh lớn nhất của iPhone vào năm 2012 từ Android, một nền tảng mở và miễn phí do Google phát triển. Liên minh điện thoại mở (OHA)- liên đoàn 84 nhà sản xuất điện thoại, nhà sản xuất chip, và các nhà mạng cũng đã hậu thuẫn nền tảng này. Khi nhiều nhà sản xuất nhảy vào thị trường hơn, những cải tiến mạnh mẽ đã đến với nền tảng Android. Những chiếc điện thoại hiện đại từ Samsung, HTC và các hãng khác có màn hình lớn và sáng hơn iPhone, một số còn có máy ảnh nét hơn, hệ thống âm thanh hoàn thiện hơn,... Một số công ty cũng tạo ra giao diện tương tác riêng và các ứng dụng trên nền Android. Không có gì ngạc nhiên, các nhà phát triển phần mềm đã nhìn thấy một thị trường lớn đầy tiềm năng, có khả năng đối đầu với Apple. Sự kết hợp của những yếu tố đó đã khiến nền tảng này đủ mạnh để có thể trở thành hệ điều hành cho điện thoại thông minh thông dụng nhất năm 2011.

Trong số các nhà sản xuất điện thoại, Samsung là đối thủ trực tiếp nhất của Apple. Samsung tham gia vào phân khúc điện thoại thông minh khá muộn, nhưng đã trở thành hãng dẫn đầu về doanh số vào năm 2011 với sự ra đời của điện thoại Galaxy S2 dùng hệ điều hành Android. Galaxy S2 sử dụng màn hình của riêng Samsung Super Amoled, được coi là sáng nhất trong ngành. Các chuyên gia ước lượng rằng điện thoại thông minh tạo ra 80% lợi nhuận hoạt động cho mảng thiết bị di động của Samsung. Trong khi Android là hệ điều hành chính trong chiến lược của Samsung, hãng vẫn dùng Windows Phone, Tizen, và Bada nền tảng do chính Samsung tạo ra. Samsung là một công ty lớn, sản xuất chip, máy tính cá nhân, tivi, đồ dân dụng cũng như điện thoại.

HTC, trụ sở tại Đài Loan, đi đầu trong nhiều cải tiến điện thoại thông minh, trong đó có việc là hãng đầu tiên chào bán điện thoại dùng hệ điều hành Android, 3G 4G. Khi doanh thu của iPhone và Samsung đứng đầu ngành vào cuối năm 2011, HTC vẫn rất lớn và hoạt động có lợi nhuận, nhưng mất thị phần. LG Electronics, hãng dẫn đầu về điện thoại chức năng cơ bản, gặp nhiều khó khăn trong việc đảo ngược tình trạng lỗ lã và thay đổi hình ảnh một kẻ chạy theo của mìnhHãng điện thoại Motorola Mobility qui mô nhỏ, tỉ suất lợi nhuận thấp đã bị Google mua lại với giá 12.5 tỷ USD, trong một thỏa thuận được kì vọng sẽ chốt vào giữa năm 2012. Giới phân tích cho rằng Google muốn có các sở hữu trí tuệ (IP) của Motorola. Tất cả những công ty trên nền tảng Android có những chiến lược rất quyết liệt để đưa ra những chiếc điện thoại mới để cạnh tranh với Apple trong năm 2012.

RIM và một đối thủ nhẹ kí hơn - Nokia là những đối thủ theo chiều dọc sở hữu cả phần cứng và phần mềm. Điện thoại thông minh nhãn BlackBerry của RIM nổi tiếng mang đến trải nghiệm dùng thư điện tử tốt nhất cho người sử dụng và được nhiều khách hàng doanh nghiệp tin dùng. Nhưng sự phổ biến của điện thoại thông minh iPhone và Android đã gây áp lực lớn lên công việc kinh doanh của RIM. Vào năm 2012, RIM nhanh chóng mất thị phần.Thị phần Nokia cũng suy giảm nghiêm trọng. Là công ty sản xuất điện thoại di động lớn nhất thế giới trong hơn một thập kỉ, thế mạnh công ty tập trung vào thị trường châu Âu và các thị trường mới nổi. Tuy nhiên, cuộc chiến giá cả gay gắt từ các công ty Trung Quốc trong phân khúc điện thoại chức năng cơ bản, và sự vắng mặt trong thị trường điện thoại thông minh chủ chốt ở Mỹ là một trở ngại lớn. Đến năm 2012, Nokia bỏ hoàn toàn hệ điều hành của chính hãng - Symbian, và chuyển sang hệ điều hành Windows của Microsoft. Dù điện thoại dùng hệ điều hành Windows nhận được nhiều phản hồi tích cực, Nokia vẫn báo lỗ lớn vào đầu năm 2012 do thị phần của hãng giảm cả ở phân khúc điện thoại truyền thống và điện thoại thông minh.

Đối thủ với Apple App Store của Google - Play Store, tăng trưởng nhanh chóng trong khoảng 2010-2011. Số ứng dụng Android nhanh chóng bắt kịp với iPhone. Một khảo sát đối với các nhà phát triển phần mềm năm 2010 cho thấy 87% trong số họ thích phát triển ứng dụng trên iPhone, 81% thích trên Android; BlackBerry và Microsoft bị tụt lại xa phía sau. Trong khi Google đặt ra ít hạn chế hơn so với Apple, các nhà phát triển phần mềm lại thấy khó khăn khi viết ứng dụng cho Android. Hầu hết các điện thoại chạy trên hệ điều hành Android có sự khác biệt, đòi hỏi những nhà phát triển phần mềm phải viết nhiều phiên bản khác nhau cho ứng dụng của họ.Trong khi nhà phát triển phần mềm của Apple thì lại chỉ phải viết cho một loại iPhone.

0 Response to "TẬP ĐOÀN APPLE 2012 - KỲ 2"

Đăng nhận xét

Xem nhiều nhất

Xem nhiều nhất trong tháng