CÁI GIÁ CỦA QUYỀN LỰC PHỐ WALL - KỲ 1


[TÓM TẮT Ý TƯỞNG]

VẤN ĐỀ: 
Nhằm đối phó với áp lực từ Phố Wall, các nhà lãnh đạo liên tục đưa ra những quyết định không hướng đến lợi ích tốt nhất cho công ty của mình.
PHÂN TÍCH:
Ngành tài chính đã tích lũy được quyền lực cực mạnh kể từ những năm 1980. Quyền lực này làm méo mó chính sách của chính phủ cũng như là quyết định của doanh nghiệp theo những cách làm thiệt hại cho nên kinh tế và gây bất ổn cho xã hội.
GIẢI PHÁP:
Chúng ta cần phải thiết lập lại sự cân bằng giữa lợi ích của Phố Main (Main Street)[1] với Phố Wall. Làm như vậy sẽ cần phải có sự can đảm của nhiều nhà quản trị cũng như là của chính phủ Mỹ.

Dịch giả: Bùi Hồng Hạnh - The Keynesian Association
Thẩm định: ThS. Nguyễn Quang Hiếu - Đại học Ngoại thương

Vụ ra mắt máy bay 787 của Boeing đã bị thất bại do những khoản chi phí vượt mức khổng lồ và do pin bị nổ. Sản phẩm nào cũng có thể có vấn đề về kĩ thuật, nhưng điều đáng chú ý ở vụ máy bay 787 là ở chỗ, những lỗi này bắt nguồn từ chính loại quyết định mà các nhà lãnh đạo đưa ra theo yêu cầu của Phố Wall.

Trước vụ sáp nhập với McDonnell Douglas vào năm 1997, Boeing đã có một văn hóa hướng đến hoạt động kĩ thuật và nhiều lần mạo hiểm với những khoản đầu tư táo bạo vào loại máy bay mới. Ngược lại, McDonnell Douglas không thích rủi ro và chỉ tập trung vào việc cắt giảm chi phí cũng như hoạt động tài chính, và văn hóa của công ty này sau đấy đã chi phối công ty sau sáp nhập. Do đó, dù gặp phải sự phản đối của những kĩ sư Boeing có thâm niên, máy bay 787 đã được phát triển với mức độ thuê ngoài chưa từng thấy, một phần do các kĩ sư này cho rằng làm như thế sẽ tối đa hóa lợi suất trên tài sản ròng (RONA) [2] của Boeing. Hoạt động thuê ngoài đã loại bỏ nhiều tài sản ra khỏi bảng cân đối kế toán của Boeing nhưng đã khiến cho chuỗi cung ứng của máy bay 787 trở nên phức tạp đến mức công ty không thể duy trì mức chất lượng cao mà một máy bay dân dụng phải có. Giống như các kĩ sư đã dự đoán, kết quả là những lần trì hoãn lớn và những khoản chi phí tăng chóng mặt.

Quyết định của Boeing nhằm tốt thiểu hóa tài sản được đưa ra với tư duy của Phố Wall. Lợi suất trên tài sản ròng (RONA) được nhiều nhà phân tích tài chính sử dụng để đánh giá các nhà quản trị và các công ty, và việc tập trung vào loại tiêu chuẩn này đã tác động đến lựa chọn của nhiều công ty. Thực tế, nghiên cứu của các nhà kinh tế học John Asker, Joan Farre-Mensa, và Alexander Ljungqvist cho thấy mong muốn tối đa hóa giá cổ phiếu trong ngắn hạn sẽ dẫn đến việc các công ty đại chúng chỉ đầu tư vào tài sản bằng một nửa so với các công ty cổ phần chưa niêm yết. Ví dụ, áp lực phải giảm tài sản đã khiến cho Sara Lee chuyển đổi từ hoạt động sản xuất hàng may mặc và thực phẩm sang quản trị thương hiệu. Tổng giám đốc điều hành của Sara Lee giải thích rằng, “Phố Wall có thể cho bạn ra rìa. Họ là những người tạo ra luật… và họ quyết định thưởng cho những công ty tạo ra nhiều lợi nhuận nhất dựa trên lượng tài sản ít nhất.”  Nhằm có được doanh thu cổ phiếu cao hơn, nhiều công ty ngành điện tử đã thuê ngoài khâu sản xuất, giống như Boeing và Sara Lee, cho dù sự kết hợp chặt chẽ giữa khâu Nghiên cứu & Phát triển với khâu sản xuất là then chốt đối với quá trình đổi mới.  

Trong một bài viết khác nằm trong mục Tiêu Điểm của ấn bản tháng này, Clayton Christensen lập luận rằng việc ban quản trị áp dụng những tiêu chí mà Phố Wall ưa dùng đã cản trở quá trình đổi mới. Nhiều học giả và nhà lãnh đạo tương tự đã chỉ trích Phố Wall không chỉ về việc thúc đẩy lối tư duy theo ngắn hạn mà còn về việc hi sinh lợi ích của nhân viên và khách hàng để làm lợi cho cổ đông cũng như là việc khuyến khích sự không trung thực từ nhiều nhà lãnh đạo, những người cảm thấy mình đang bị đòi hỏi phải đáp ứng những yêu cầu không tưởng. Ảnh hưởng của ngành tài chính đối với ban quản trị đã trở nên mạnh đến mức một khảo sát gần đây về nhiều giám đốc tài chính đã cho thấy 78% trong số những người được hỏi sẽ “từ bỏ giá trị kinh tế” và 55% sẽ hủy bỏ một dự án có giá trị hiện tại ròng dương – tức là, sẵn sàng gây thiệt hại cho công ty của mình – để đạt được mục tiêu và mong muốn có doanh thu “ổn định” của Phố Wall.

Nhiều nhà lãnh đạo thường biện hộ cho việc chiều ý Phố Wall bằng việc bảo rằng họ có một “nghĩa vụ được ủy thác” phải tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông. Điều đó đã trở thành một tín điều từ năm 1970, khi mà Milton Friedman viết trên tờ Thời báo New York rằng trách nhiệm duy nhất của các nhà lãnh đạo là tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ, điều đó không chính xác. Dù cho ý kiến của bạn về trách nhiệm đạo đức của các nhà lãnh đạo là gì đi nữa, một nghĩa vụ được ủy thác là một nghĩa vụ pháp lý cụ thể, và giáo sư ngành luật Lynn Stout đã chỉ ra rằng xét về mặt luật pháp mà nói, các nhà lãnh đạo chẳng hề phải đối mặt với bất kì yêu cầu nào như thế.

Vậy thì tại sao các nhà quản trị lại đưa ra lựa chọn mà họ biết là sai trái? Tại sao lại có nhiều người đến vậy tin vào (hoặc hành động như thể họ tin vào) một điều đơn giản là không đúng? Tôi là một nhà khoa học chính trị. Tức là, cũng giống như một nhà kinh tế học suy nghĩ về tiền hay một anh lính suy nghĩ về quân đội, tôi nghĩ về quyền lực. Có rất nhiều trường hợp mà con người ta – hay các quốc gia – hành động trái lại với lợi ích của chính mình. Một trong số những trường hợp quan trọng nhất – và cũng nguy hiểm nhất – là khi một ngành hoặc nhóm mạnh đến mức nó chi phối cách cả xã hội nghĩ về nó. Một khi bạn xem xét những nghiên cứu trong nhiều ngành khác nhau thông qua quan điểm đó, bạn sẽ nhận thấy rõ ràng rằng chúng ta phải làm điều gì đó để hạn chế quyền lực cực lớn và bất cân xứng của Phố Wall.

Thế thượng phong của ngành tài chính

Trước Đại Khủng hoảng, vị thế và tác động của nhiều công ty tài chính lớn đến mức khi Theodore Roosevelt đệ trình đơn kiện chống độc quyền đầu tiên nhằm kiện ngành đường sắt của J.P. Morgan, Morgan đã nói với ông rằng, “Nếu chúng tôi có làm gì sai, thì ông hãy cử người của ông [Viện chưởng lý] đến gặp người của tôi, và họ có thể sửa chữa sai lầm đó.” Tuy nhiên, sau vụ sụp đổ của thị trường chứng khoán vào năm 1929, Mỹ đã thông qua Đạo luật Glass-Steagall và các luật khác nhằm kiểm soát ngành tài chính cũng như là làm tăng tính ổn định cho nền kinh tế.

Trong những thập niên gần đây, những luật này phần lớn đã được bãi bỏ. Hậu quả dễ thấy nhất là sự tăng trưởng khủng khiếp của ngành tài chính. Trong năm 1970, ngành tài chính và ngành bảo hiểm chiếm 4.2% GDP của Mỹ, tăng 2.8% so với năm 1950. Đến năm 2012 hai ngành này chiếm 6.6%. Câu chuyện về lợi nhuận cũng tương tự: Trong năm 1970 lợi nhuận của ngành tài chính và ngành bảo hiểm tương đương 24% lợi nhuận của tất cả các ngành khác cộng lại. Trong năm 2013 con số đó đã tăng lên đến 37%, mặc dù có những tác động hậu khủng hoảng tài chính.

Những số liệu này thực ra lại hạ thấp địa vị thống trị thật sự của ngành tài chính, vì nhiều công ty phi tài chính lại có những đơn vị kinh doanh quan trọng thuộc ngành tài chính. Tài sản của những đơn vị kinh doanh như thế bắt đầu tăng mạnh trong đầu những năm 1980. Đến năm 2000 thì khối tài sản này đã lớn hơn hoặc bằng giá trị tài sản hữu hình của các công ty phi tài chính. Ví dụ, trong suốt giai đoạn đầu những năm 2000, số tiền mà Ford kiếm được từ việc bán những khoản vay nhiều hơn từ việc bán ô tô, trong khi GE Capital tạo ra xấp xỉ một nửa tổng doanh thu của GE. Nếu như bạn tính cả những công ty phi tài chính, trong năm 1980 tổng giá trị của các tài sản tài chính ở Mỹ gấp 5 lần GDP của quốc gia này. Trong năm 2007 con số này gấp 10 lần GDP.

Sự nhảy vọt về quy mô và lợi nhuận này cũng đã làm tăng ảnh hưởng của ngành tài chính đối với chính phủ. Từ năm 1998 cho đến năm 2013, ngành tài chính, bảo hiểm và bất động sản đã chi ra hơn 6 tỷ đô-la cho hoạt động vận động hành lang, ngành duy nhất chi nhiều hơn thế là y tế. Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, ngành này thực sự đã gia tăng áp lực đối với chính phủ. Hãy xem xét vòng bầu cử năm 2013-2014: Tính đến tháng 3/2014, các ngành tài chính, bảo hiểm và bất động sản đã chi gần 485 triệu đô-la cho hoạt động vận động hành lang – nhiều hơn bất kỳ ngành nào khác – và đã quyên tặng gần 149 triệu đô-la cho những chiến dịch của các ứng cử viên liên bang, gấp gần 3 lần so với số tiền mà ngành y tế đã quyên tặng.   

Những người đại diện và vận động hành lang của ngành tài chính có quan hệ mật thiết với nhiều cơ quan, mà những cơ quan này đáng lẽ phải quản lý ngành này, đến mức những người làm việc trong chính phủ đã nhất trí gọi họ là “The Blob”[3]. Điều này được thể hiện trong bản lý lịch của các quan chức chính phủ đương nhiệm và đã nghỉ việc. Người quản lý ngành tài chính quan trọng nhất là Bộ trưởng Bộ Tài chính. Hãy xem xét sáu nhân vật đã từng nắm vị trí này. Jack Lew, Bộ trưởng đương nhiệm, trước đó đã làm việc tại Citigroup. Người tiền nhiệm của ông ta, Timothy Geithner, hiện đang là chủ tịch Warburg Pincus, một công ty quản lý đầu tư cổ phần tư nhân[4] thuộc Phố Wall. Người tiền nhiệm của Geithner, Hank Paulson, trước đó là CEO của Goldman Sachs. Người đảm nhiệm chức vụ trước ông ta là John Snow, người hiện đang là chủ tịch Hội đồng quản trị của Cerberus, một công ty quản lý đầu tư cổ phần tư nhân. Người tiền nhiệm của Snow, Larry Summers, đã nhận hơn 5 triệu đô từ quỹ phòng vệ D.E. Shaw sau khi rời Bộ tài chính, và người tiền nhiệm của ông ta, Robert Rubin, cũng đã từng đứng đầu Goldman và nắm giữ một vị trí cấp cao tại Citigroup sau khi rời bỏ chính phủ.

Nghiên cứu của tôi cho thấy con đường dẫn đến quyền lực của nhiều vị lãnh đạo chi phối hành động của họ trong cơ quan chính phủ. Những người làm việc nhiều trong ngành tài chính thường sẽ có thế giới quan của ngành này. Mỗi một người trong 6 người nói trên đều có một sự nghiệp đáng kể trong ngành tài chính trước khi làm việc cho chính phủ hoặc là quan tâm đến lợi ích của ngành này khi đang tại vị đến mức họ chẳng gặp khó khăn gì khi tìm kiếm một vị trí cấp cao, được trả lương tốt sau khi thôi việc (hoặc cả hai). Vấn đề này, theo như giải thích của nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang – bà Sheila Bair, là “thuộc về vấn đề nhận thức chứ không liên quan nhiều đến tham nhũng. Đấy chỉ là chuyện lắng  nghe các tổ chức tài chính lớn và những người đại diện cho các tổ chức này quá nhiều mà ít chú ý đến những người thuộc Phố Main.“

Ảnh hưởng của Phố Wall đối với chính sách của chính phủ là rất lớn, thậm chí trong giai đoạn hậu khủng hoảng. Hãy xem xét chỉ ba ví dụ:

-       Phố Wall đã tác động để làm trì hoãn sự ban hành đạo luật Volcker, vốn nhằm ngăn chặn các ngân hàng sử dụng những khoản tiền gửi được bảo hiểm liên bang để giao dịch dưới tên mình. Trong những tháng trước khi các cơ quan quản lý ban hành dự thảo luật, số lượng những đại diện ngành tài chính khi đó đang vận động hành lang nhằm làm giảm hiệu lực của luật này chiếm 93% trong các cuộc họp của các cơ quan hữu quan với các bên khác.

-       Khi Ủy ban Giao dịch Hợp đồng hàng hóa tương lai (CFTC) nỗ lực điều tiết các công cụ phái sinh – những công cụ tài chính đóng vai trò quan trọng trong cuộc khủng hoảng – thì cách đối phó của Phố Wall lại là một đợt vận động hành lang chớp nhoáng. Kết quả là một loạt những điều khoản miễn trừ nhằm đảm bảo sao cho những quy định của CFTC sẽ kiểm soát ít hơn 20% thị trường thế giới.

-       Viện chưởng lý Eric Holder đã điều trần trước Nghị viện rằng ông đã không khởi tố một số ngân hàng vì chúng lớn đến mức việc buộc tội chúng sẽ ảnh hưởng đến cả nền kinh tế - một dấu hiệu rõ ràng rằng quy mô đã mang lại cho các ngân hàng ở Phố Wall sức mạnh lớn lao. Nói cách khác, những ngân hàng này mạnh đến mức người đứng đầu cơ quan thi hành luật của chính phủ đã phải tuyên bố rằng chúng nằm trên sự quản lý của pháp luật.

Thanh thế của ngành tài chính cũng đã tăng trở lại đến mức đỉnh cao của nó như ở những năm 1920. Sau Chính sách kinh tế mới (New Deal), người ta nghĩ đến Phố Wall như một nơi tù túng. Trong năm 1949 Peter Drucker đã viết rằng trong khi “hai mươi năm trước người sinh viên tốt nghiệp Trường Kinh doanh Harvard ưu tú mong muốn một công việc tại Sàn giao dịch chứng khoán New York, giờ đây anh ta lại đang tìm việc trong một công ty sắt thép, dầu hoặc ô tô.” Ngược lại, trong năm 2012, top 10 công ty được yêu thích nhất trên thế giới bao gồm J.P. Morgan và Goldman Sachs. 35% những người tốt nghiệp Trường Kinh doanh Harvard (HBS) đã làm việc trong ngành tài chính vào năm đó. Thực tế thì con số đó đã giảm so với giai đoạn đỉnh cao, vào năm 2008, khi có tới 45% số sinh viên tốt nghiệp HBS chọn ngành dịch vụ tài chính, nhưng ngành này vẫn là con đường sự nghiệp phổ biến nhất đối với những sinh viên của HBS.

Đọc kỳ 2 tại: http://www.thekeynesian.com/2015/07/cai-gia-cua-quyen-luc-pho-wall-ky-2.html





[1] Main Street: Một thuật ngữ ám chỉ đến những nhà đầu tư, người lao động riêng lẻ và nền kinh tế nói chung. “Main Street” thường được dùng với ý nghĩa đối lập với Wall Street.

[2] RONA (Return on net assets) = ̣inhuậnròngTàisảncốđịnh-Vốnlưu động
Do đó giảm tài sản cố định sẽ làm tăng lợi suất trên tài sản ròng.

[3] The Blob: Là tên một quái vật ngoài hành tinh trong bộ phim kinh dị cùng tên. Sinh vật vô định hình này ăn thịt tất cả những thực thể sống mà nó bắt được và ngày càng trở nên to lớn và hung hăng. Cụm từ này có thể ám chỉ đến sự tham lam của những người đại diện và vận động hành lang cho ngành tài chính ở Mỹ.

[4] Private equity firm: Một công ty quản lý đầu tư chuyên đầu tư vào phần vốn cổ phần tư (bao gồm chứng khoán vốn và nợ của những công ty không được chính thức niêm yết và giao dịch trên sàn chứng khoán).

0 Response to "CÁI GIÁ CỦA QUYỀN LỰC PHỐ WALL - KỲ 1"

Đăng nhận xét

Xem nhiều nhất

Xem nhiều nhất trong tháng