CASE STUDY - TƯ DUY VÀ CẢI TIẾN THIẾT KẾ CỦA APPLE - KỲ 1



<"Tư duy khác biệt" - Khẩu hiệu quảng cáo của Apple, 1997 - 2002>

Dịch giả: Phạm Hồng Hạnh - Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội

Thẩm định: TS. Nguyễn Thu Hương - Đại học Ngoại thương


Case study này được phát triển từ những nguồn đã công bố. Các case study của HBS được phát triển chỉ cho mục đích thảo luận trên lớp học. Các case study không dùng cho mục đích quảng cáo, nguồn dữ liệu cơ bản, hoặc minh họa cho sự quản lý hiệu quả hay kém hiệu quả.


Tính đến đầu tháng 3 năm 2010, vài tuần sau khi máy tính bảng Ipad của Apple ngoạn mục trình làng, giá cố phiếu tập đoàn vẫn duy trì trong ngưỡng 200 đô la Mỹ như mức giá vẫn dao động trong hơn 6 tháng trước đó. Điều này cho thấy sức mạnh tài chính vững chắc và những triển vọng tăng trưởng trong tương lai của tập đoàn khi các nền kinh tế và tình hình kinh doanh trên thế giới tiếp tục rơi vào bế tắc từ sau cuộc Đại khủng hoảng. Với vốn hóa thị trường đạt gần 200 tỷ đôla Mỹ và doanh thu hàng năm đạt gần 50 tỷ đôla Mỹ, Apple giờ đây xứng đáng vượt qua gã khổng lồ công nghiệp “General Electric” và gấp 5 lần tổng giá trị tập đoàn Sony cho dù cả 2 tập đoàn kể trên đều có nền tảng doanh thu lớn hơn Apple. Đáng ngạc nhiên hơn nữa là khoảng 12 năm về trước, khi Steve Jobs về Apple, giá cố phiếu công ty chỉ đạt quanh mức 5 đôla Mỹ và con số này không lấy gì làm chắc chắn về một tương lai khởi sắc cho công ty. Sau đó, Jobs đã bị sa thải khỏi công ty mà mười năm trước đó ông đồng sáng lập và ông quay trở về khi công ty đã gần như bị xóa sổ. Dù vậy, bất chấp thời kì khó khăn đó, tôn chỉ thiết kế và phát triển sản phẩm công ty vẫn tồn tại.

Từ khi thành lập vào năm 1976, Apple được xem là kẻ dẫn đầu về mảng thiết kế và hợp nhất phần cứng và phần mềm máy tính. Đến năm 2010, tập đoàn đã cơ bản làm thay đổi hoạt động của thị trường âm nhạc, điện thoại di động, và bán lẻ thông qua những sản phẩm kiểu dáng đẹp, những cửa hàng cải tiến và những mô hình kinh doanh mới mẻ.  Hơn thế nữa, máy tính bảng Ipad vừa mới ra mắt có thể sẽ thúc đẩy những chuyển biến trong kinh doanh xuất bản. Những cửa hàng Apple có doanh thu cao nhất trong lĩnh vực bán lẻ và cửa hàng ứng dụng dành cho Iphone của hãng cũng đạt 1 tỷ lượt tải về chỉ trong vòng 9 tháng sau khi ra mắt (2007). Đáng ngạc nhiên là những cải tiến mang tính bước ngoặt cũng theo đó ra đời. Bất cứ ai dùng sản phẩm Apple thế hệ II năm 1978, 30 năm sau đó có trên tay chiếc điện thoại iPhone ắt hẳn sẽ nhận ra nét tương đồng giữa chúng. Ở khía cạnh nào đó, thiết bị mới này là tương quan với cái trước đó: chúng khác nhau nhưng lại giống nhau.

Thành công của Apple không chỉ là kết quả của những bước đi chiến lược khôn ngoan hay nhờ cảm quan điều chỉnh thị trường sẵn có. Nó đến từ ý chí sâu thẳm rằng phải hiểu cách con người sử dụng các thiết bị điện toán và khát vọng phát triển “những sản phẩm vĩ đại phá cách”. Máy nghe nhạc iPod nổi tiếng ra đời nhờ tình yêu với âm nhạc lan tỏa trong tập đoàn. Cũng vào thời điểm đó, chính tình yêu này đã hòa hợp tuyệt đối với nhu cầu, năng lực và mơ ước của hàng triệu khách hàng. Và đối với các thị trường mới đang được khai thác đó, Apple đã để mắt tới việc kinh doanh máy tính dòng core.

Khi Apple mạo hiểm xâm nhập vào các mảng kinh doanh mới và đối mặt với số lượng đối thủ cạnh tranh mạnh không ngừng gia tăng, thì nguyên nhân dẫn đến thành công của hãng lại là một câu hỏi khó cho nhiều chuyên gia ngành công nghiệp và những học giả ngành công nghệ. Công ty thường không tuân theo quy luật kinh doanh thông thường, và không ngại thử nghiệm ngoài những thị trường then chốt của mình. Apple xây dựng những cửa hàng bán lẻ, khi các đối thủ đã đang chuyển dịch sang bán hàng trực tiếp và các mô hình phân phối, và các sản phẩm của hãng hiếm khi xuất hiện đầu tiên trên thị trường. Tuy nhiên, tồn tại 1 sự nhất quán đến kinh ngạc trong cách công ty hoạt động. Đơn giản mà nói, “Apple Way” là một bộ các quy tắc với cam kết chặt chẽ vào những sản phẩm và dịch vụ tốt nhất theo giá trị cốt lõi của hãng: ý tưởng thiết kế, chiến lược phát triển và thực hiện rõ ràng, CEO phải là người khởi xướng sáng tạo, và nỗ lực to lớn để thực hiện những thử nghiệm kinh doanh táo bạo.


Ý tưởng thiết kế

Nhiều người trong chúng tôi - trong đội sản xuất dòng máy tính Macintosh đều đã thực sự phấn khích với những gì chúng tôi đang làm. Kết quả là mọi người chiêm ngưỡng Macintosh và rồi có cảm tình ngay với nó...Có sự kết nối cảm xúc ở đây... cái mà tôi cho rằng đến từ trái tim và tâm hồn của cả đội thiết kế. (Theo ông Bill Atkinson,1 thành viên đội phát triển dòng máy tính Macintosh của Apple)

Rõ ràng, tình yêu với những chiếc máy tính chẳng là thứ gì to tát vào thời điểm mà máy tính chỉ được dùng như những cỗ máy để xử lý dữ liệu và dùng trong kĩ thuật tự động hóa. Hơn nữa, vào giữa những năm 70, khi Apple thâm nhập thị trường, các thiết bị máy tính chỉ được đặt tại các vị trí riêng biệt trong trụ sở chính của công ty và các cơ quan chính phủ, được bảo mật và chỉ các chuyên gia được sử dụng. Khái niệm về những chiếc máy tính cá nhân như một công cụ làm việc cá nhân lúc đó ít ai nghĩ tới. Các tập đoàn và cơ quan chính phủ kiểm soát cách thức vận hành công việc và vì thế mà ảnh hưởng lên việc sáng tạo các công cụ sinh ra để kiểm soát việc đó. Các quy trình và hệ thống kinh doanh tiến triển rút cuộc được giữ lại trong các phần mềm doanh nghiệp, với trọng tâm vào các công việc sử dụng kĩ thuật tự động hóa.

Tuy nhiên, đối với Steve Jobs và nhóm những người phát triển Apple thời kì đầu thì mục tiêu là: thiết kế một chiếc máy tính vừa hỗ trợ vừa đẩy mạnh công việc cá nhân. Hơn thế nữa, nhóm người này cũng lập luận rằng nhóm khách hàng tiềm năng chắc chắn sẽ ưng những chiếc máy tính nếu họ khắc phục được cái phức tạp vốn có của máy móc và cũng mất khá nhiều tiền để làm như vậy. Con người sẽ phải nhận ra công cụ này sẽ hữu ích với họ như thế nào và rồi muốn sở hữu cái lợi ích đó cho riêng họ. Các sản phẩm của tập đoàn Apple thu hút khách hàng theo hướng như vậy. Ngay từ đầu, Apple đã tập trung vào những người dùng cá nhân, và tin tưởng rằng những sản phẩm định trước hữu ích cho con người sẽ hữu ích thực sự trong thực tiễn. Để có được điều này, mức độ phức tạp cần phải được giảm xuống đáng kể.

Đơn giản trong thiết kế và sử dụng

Khao khát giúp mọi người yêu thích và có được những trải nghiệm với thiết bị của mình đã khởi nguồn và tiếp tục thúc đẩy cách mà các sản phẩm Apple đã và đang được thiết kế ngày nay. Cordell Ratzlaff, kĩ sư trưởng của hệ thống điều hành Mac X nói:

Ban đầu, chúng tôi làm về thiết kế. Chúng tôi tập trung vào những gì chúng tôi cho là mọi người cần và muốn, và cách mà họ tương tác với máy tính của mình. Chúng tôi đảm bảo rằng chúng tôi hiểu đúng và rồi tiến hành tìm ra kỹ thuật để đạt được điều đó. Trong nhiều trường hợp, khi đã đến được với thiết kế mà chúng tôi biết rằng nó sẽ thực sự hữu ích cho con người, chúng tôi vẫn không biết làm thế nào để xây dựng được thiết kế đó. Chúng tôi có một mục tiêu thiết kế, và chúng tôi làm việc với các kỹ sư để tạo ra thiết kế đó. Chúng tôi cuối cùng đã làm rất nhiều điều mà trước đó chúng tôi cho là không thể, hoặc mất khá nhiều thời gian mới làm được. Thật tuyệt vì chúng tôi vẫn đang áp dụng rất nhiều tính sáng tạo và sự tinh tế vào lĩnh vực thiết kế và rồi đến các kĩ sư cũng dùng những sáng tạo và cải tiến tương tư để hiện thực hóa những mục tiêu của chúng tôi.

Ngay từ đầu, các sản phẩm của Apple được hình thành với mục tiêu đạt được sự tương tác cao. Để đạt được điều này, ông Jonathan Ive – phó chủ tịch cấp cao trong khâu thiết kế sản phẩm công nghiệp của Apple – người đi đầu phát triển máy nghe nhạc iPod ( cuối những năm 90) có nói “Nhiều khi chúng tôi lo lắng về những thứ tiểu tiết nhất... trong khi tôi không cho rằng tất cả mọi người sử dụng sản phẩm này để ý hay quan tâm sâu sắc về mọi chi tiết nhỏ, tôi thật sự cho rằng khi đặt trong một tổng thể, nó mới thực sự quan trọng, và nó góp phần giải thích tại sao mọi người thích sản phẩm đó.”

Quan tâm đến từng chi tiết nhỏ nhất như ngay cả bao gói các sản phẩm của hãng đã giúp người đồng sáng lập – Steve Jobs nhìn ra sự tinh tế trong thiết kế là: đơn giản chính là nét tinh tế cơ bản. Khác biệt với các tổ chức vẫn cho rằng “ chi tiết” đi liền với “ những điểm đặc trưng” thì các sản phẩm của Apple thường được chú ý không phải bởi chúng bao gồm những gì. Nhiều năm về trước, máy tính Mac không có chỗ cho đĩa mềm (bạn phải có thêm một thiết bị ngoài); đã có nhiều ý kiến chỉ trích Apple ngạo mạn mà bỏ đi những chi tiết phải có. Tuy nhiên, nhiều công ty khác lại sớm đi theo Apple, và các thiết bị ngoài nhanh chóng được phát triển để kết nối với các chi tiết những sản phẩm Apple có. Nói cách khác, khi những chi tiết nhỏ nhất được xem xét kĩ lưỡng thì hoàn toàn có thể tìm ra chi tiết nào không cần có vẫn chạy bình thường – và chi tiết nào phù hợp hơn cho một vị trí khác. Đây là cách Paul Mercer, công ty Pixo của ông đã áp dụng phần mềm tương tác người dùng trên iPod, đã làm nên một hiện tượng, ông nói:

iPod rất đơn giản...nó thực sự không làm gì khác ngoài việc cho phép bạn định vị nhạc. Điều này nói lên hai thứ...thứ nhất là sự đơn giản hóa đã đi vào trong thiết kế sẽ là tư tưởng được suy xét rất kỹ, và thứ hai là năng lực tạo dựng lên sự đơn giản này không thương mại hóa được. Thực tế là không ai có khả năng sao chép năng lực... có nghĩa là những tòa nhà khó lòng mà chiếm hữu và một cảm quan thiết kế để đi đến một giải pháp đơn giản mà dễ áp dụng không tồn tại ở nhiều hãng phát triển sản phẩm trên toàn thế giới.

“Cảm quan thiết kế” này đã thể hiện rõ trong iPod Mini thực tế đã làm giảm lượng nhạc phải chạy nhưng vẫn tận dụng triệt để công nghệ ổ cứng mới. “Chiếc iPod Mini này được thiết kế hoàn toàn giống với chiếc iPod ban đầu”, Ive có giải thích thêm:

            Chúng tôi đang cố gắng tận dụng và khai thác triệt để thực tế về một ổ ứng có thiết kế nhỏ gọn hơn, và thực sự thấu hiểu sự khác biệt này. Chúng tôi đã làm ra một mô hình theo hướng tương tự như với bản ban đầu, rồi áp dụng cách thức và nền tảng thiết kế đó, và rồi điều này là hoàn toàn sai lầm. Sau đó, chúng tôi bắt đầu tìm tòi những chất liệu và hướng đi mới. Chúng tôi nhận ra có thể làm bằng nhôm. Không giống như thép nguyên chất, bạn có thể thổi chảy sau đó cho anot hóa nhôm thành dạng nhuộm, tiếp đó phủ màu theo phương pháp đặc trưng.

Vì vậy, chiếc iPod Mini, với ít hơn một phần tư bài hát phải chạy với giá giảm chỉ 50USD so với iPod ban đầu với đủ màu sắc, đủ sức đấu trọi với trí tuệ toàn cầu và trở thành một sản phẩm được nhiều người ưa thích cả về sự đi lên từ phiên bản gốc và những nét độc đáo của riêng chúng. Khả năng thiết kế đi lên từ chính những triết lý cũ nhưng áp dụng những công nghệ mới và những chất liệu khác biệt cũng thể hiện rõ nét trong iPod Nano và iPod Shuffle – hai sản phẩm đã giảm hơn nữa lượng nhạc phải chạy cũng như kích cỡ sản phẩm, để rồi cả hai đều bán rất chạy. Hãng cho rằng người dùng sẽ muốn có một “danh mục” các iPod – và rồi họ muốn thật. Hơn nữa, toàn ngành công nghiệp lại hướng trọng tâm sang iPod cùng các thiết bị đi kèm, “trạm phát”, và các kết nối với những thiết bị khác.

Hơn cả thời trang

Với những chiếc iPod, iPhone, iPad và Macbook kiểu dáng đẹp và được nhiều khách hàng ưa chuộng theo như mô tả của giới truyền thông, Apple có khả năng cao làm nên “xu hướng thời đại” – nổi tiếng là hợp thời, và phù hợp với xu hướng phát triển lúc này. Nhưng có điều nó còn sành điệuhơn cả thời trang. Thực tế, Apple đã đi trước thời đại, và nhận ra cần mang lại những trải nghiệm cho khách hàng như: trong khi thiết kế của hãng dường như được chăm chút từ trong ra thì thiết kế bên ngoài tiếp tục vô cùng hấp dẫn, và phải nói là “trên cả tuyệt vời.” Theo Steve Levy – người đã viết rất nhiều về Apple thì, iPod đã đạt kì tích tuyệt vời cho cả cá nhân sử dụng và cho cả hàng triệu, hàng triệu người dùng.

Thế nên, diện mạo các sản phẩm Apple theo Ive là “kết quả của sự quan tâm chi li đến từng chi tiết”. “Thứ mà tất cả các đối thủ cạnh tranh với chúng tôi đang bỏ sót là cái họ quan tâm chỉ là về thời trang, chỉ là diện mạo trên bề mặt...Và họ không thể đi xa qua cái sự thực đó.” Ive nói về chiếc iMac sặc sỡ trình làng vào giữa năm 1998, đánh dấu sự trở lại của Jobs:

IMac không là máy tính màu kẹo. Imac là máy tính thực sự yên tĩnh, không cần quạt gió, khởi động máy chỉ trong 15 giây, có hệ thống âm thanh tốt nhất trong dòng máy tính cho người tiêu dùng và hiển thị tinh tế. Nó còn là chiếc máy tính hoàn hảo ở cả bên ngoài.
Thực tế, Ive đã nêu tên hầu hết các sản phẩm công ty đã cho ra đời trong vài thập kỉ vừa qua, cả những sản phẩm kinh doanh không thành công ví dụ như G4 Cube. CEO của Apple – Steve Jobs đã mô tả sản phẩm đó như: “...máy tính tuyệt nhất từ trước tới giờ...nó chính là tầm nhìn về xu hướng và lợi điểm của công nghệ trong đời sống. Bằng việc tỉnh lược nhiều chi tiết, chúng tôi đã làm nên những tiến bộ. Đây là hướng đi mạo hiểm, nó còn khó khăn hơn là cứ cố giữ lại những chi tiết rẻ kia nhiều.”7 Thiết kế bên ngoài của chiếc G4 Cube tao nhã (đắt đỏ và cuối cùng không thành công) được Jobs tin tưởng là điểm hoàn thiện thiết kế của cả một sản phẩm, từ ý tưởng phát triển, từ quy trình làm và cuối cùng đến trải nghiệm người dùng để rồi sự đơn giản chính là nét tinh tế mấu chốt.

Gần như rõ ràng rằng chính Jobs nhờ tác động mạnh mẽ từ sản phẩm ông đã mạo hiểm sáng tạo sau khi rời Apple (vào năm 1985) – dòng máy tính NeXT hướng tới thị trường giáo dục đã định hướng tư tưởng: thiết kế là để hoàn thiện sản phẩm (Apple đã mua công ty phần mềm NeXT vào năm 1996 để rồi dẫn đến sự trở lại của Jobs.) Dù sản phẩm này kinh doanh không thành công, nhưng cấu trúc NeXTStep đã trở thành nền tảng cho hệ điều hành máy tính OS X của Apple sau này và máy tính này cuối cùng thành cơ sở phát triển được Sir Timothy Berners-Lee dùng để tạo ra mạng lưới toàn cầu (World Wide Web) vào cuối năm 1990.

Berners-Lee có viết: “Giao diện của NeXT đẹp, mượt mà và đồng bộ. Máy hoạt động rất linh hoạt, và đã có những đặc điểm mà tính đến thời điểm đó chưa có trên máy tính cá nhân như thư điện tử bằng giọng nói và bộ tổng hợp có cổng MIDI bên trong. Ngoài ra, máy còn có cả phần mềm tạo chương trình siêu văn bản.” Vào thời điểm khi Berners- Lee đứng trước quyết định ban đầu phải lập trình lại mạng lưới toàn cầu trên một hệ điều hành khác trong thực tế các máy tính dòng NeXT hoạt động kém hiệu quả, ông nhận ra rằng, “Bán NeXT đổi lấy máy tính thông thường không khác gì bán xe thể thao yêu thích đi đổi về xe tải... Tôi quyết định vẫn bám trụ vào NeXT.” 

Đáng nói là, giao diện đẹp, mượt mà và đồng bộ không có nghĩa phải từ bỏ nhiều đặc điểm mà vào thời điểm đó vẫn chưa có ở những máy tính cá nhân khác. Tầm nhìn Apple về sự giản đơn xuất phát từ nhận thức sâu sắc sự tao nhã và sự hòa hợp những chi tiết tinh vi cùng các chức năng không có nghĩa cứ phải có đánh đổi giữa các thành tố này.  Chẳng có ràng buộc gì giữa sự đơn giản trong sử dụng (đẹp, mượt mà và đồng bộ) với các tính năng bao gồm những đặc điểm “có thể thấy trước” (như siêu văn bản) đặt trong tương quan với các sản phẩm trong vẻ ngoài đơn giản và chỉ làm được một việc trong thực tế (ví dụ như: hướng đi “một nút ấn” dùng cho máy ảnh và điện thoại). Hơn nữa, thiết kế đơn giản tinh tế trong các sản phẩm của NeXT và Apple phần lớn theo tôn chỉ: đội thiết kế vẫn tiếp tục làm đến tận khi tìm ra căn nguyên của vấn đề để rồi theo đó thiết kế. Ở Apple, khó khăn không làm thay đổi đích đến, và cũng chẳng phải là thứ khi đã giải quyết một lần là có thể áp dụng cho tất cả.

Cải tiến, chiến lược phát triển sản phẩm, và kế hoạch thực hiện
            Chỉ quan sát thôi bạn cũng có thể thấy được nhiều thứ.
 <Yogi Berra, cầu thủ và quản lý giải bóng chày nhà nghề Mỹ>

Ở Apple, những cải tiến, chiến lược phát triển sản phẩm, và kế hoạch thực hiện xuyên suốt quá trình phát triển của hãng, và người đồng sáng lập- Steve Jobs có ảnh hưởng rất lớn. Ví dụ, Mac chưa bao giờ được định hình chỉ là một thiết bị vi tính; thay vào đó nó là hình dung cụ thể cách con người có thể (và nên) làm việc với thiết bị vi tính. Tầm nhìn có sức ảnh hưởng lớn đến mức những chiếc máy tính của hãng vẫn cố gắng giữ lại số lượng lớn toàn bộ những thiết kế phục vụ những “tín đồ” cuồng trong suốt thời kì hỗn độn giai đoạn 1985 khi Jobs rời hãng đến 1997 khi Jobs quay về và lên làm giám đốc điều hành một lần nữa. Dù vậy, Apple vẫn đi lên yếu ớt trong suốt giai đoạn này.

Jobs và Steve Wozniak thành lập công ty vào năm 1976 và sớm gia nhập thêm Mike Markkula con – người đã giúp công ty tiếp cận được nguồn vốn đầu tư ban đầu. Chiếc máy tính cá nhân đầu tiên của công ty – Apple II ra mắt vào năm 1978, và công ty đã có lần chào bán chứng khoán đầu tiên ra công chúng thành công hai năm sau đó. Sau đó IBM nhanh chóng thâm nhập thị trường và dù không có nét đơn giản và sự lôi cuốn trong từng chi tiết như của Apple nhưng những sản phẩm của hãng hoàn toàn có thể nhân ra nhiều phiên bản. Trái lại, những sản phẩm của Apple lại cơ bản phát triển không chọn lựa và đặc trưng bởi hệ điều hành độc quyền cũng như phần mềm độc đáo. Năm 1984, Apple cho ra Macintonish, nổi tiếng gắn liền với quảng cáo Super Bowl (được George Orwell khơi nguồn cảm hứng vào năm 1984) mà đến giờ vẫn đạt được những thành công quảng bá vang dội và luôn là cam kết cốt lõi của công ty. Nhưng nhiều phiên bản vẫn được sản xuất, và thị phần Apple (và rút cuộc vẫn là lợi nhuận) bắt đầu giảm triền miên, cơ bản không có dấu hiệu phục hồi đến tận một năm sau khi iPod ra đời.

Vào tháng 4 năm 1985, hội đồng quản trị cắt vị trí giám đốc điều hành của Jobs, sau đó ông nhanh chóng rời hãng lập nên NeXT rồi cùng sáng lập nên công ty sản xuất phim hoạt họa Pixar Studios. Giai đoạn 1985 – 1993, Apple dưới quyền John Sculley- nguyên là giám đốc điều hành PepsiCo và cũng là chuyên gia marketing. Jobs đã mời Sculley về Apple năm 1983 với một câu hỏi thách thức: “Ông muốn buôn nước ngọt cả đời sao?” Dưới thời Sculley, Apple đã phải đối mặt với cạnh tranh không nhỏ từ các phiên bản IBM, cũng như công nghệ thay đổi chóng mặt và nguồn đầu tư vốn mạo hiểm tăng đột biến – tạo lực cho các đối thủ cạnh tranh mới, theo đó là những trăn trở nên tập trung vào những thị trường nào và nên phát triển những sản phẩm gì. Khi những quyết định cuối cùng đưa ra không giải quyết vấn đề được thành công, Michael Spinderler (kĩ sư và chủ tịch Apple dưới thời Sculley) đã tiếp quản trong giai đoạn 1993 – 1996. Gilbert Amelio – tiến sĩ, nhà vật lý học và nguyên là CEO công ty bán dẫn National Semiconductor thay Spinderler tiếp quản công ty giai đoạn 1996 – 1997. Mỗi bộ máy mới kéo theo nhứng thay đổi trong chiến lược công ty.

Trong suốt thời kì này, những cuộc tranh luận nảy lửa đã diễn ra ở Apple không chỉ xung quanh vấn đề liệu có nên cấp bằng sáng chế cho hệ điều hành Mac và bắt đầu cạnh tranh trong một “không gian nhân bản”, mà còn về tầm quan trọng của thị trường các doanh nghiệp mà thị phần Apple chiếm rất thấp. Trái lại thị phần “ giáo dục” Apple chiếm gần 50%, hãng thống lĩnh các doanh nghiệp “ hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật” như đồ họa, quảng cáo, phim, phim hoạt họa và làm nhạc.) Hầu hết thị trường doanh nghiệp hệ điều hành Windows và bộ vi xử lý Intel (sau được biết với cái tên Wintel) phối hợp nắm giữ. Những sản phẩm và dự án ở Apple tạo ra hàng loạt các chiến lược đa dạng – và có cả những thất bại. Một số sản phẩm như máy tính xách tay PowerBook (1990) là những thành công to lớn, nhưng nhiều sản phẩm như nỗ lực tạo ra bộ giải mã tín hiệu truyền hình cho tivi thì lại thất bại, hay như Newton - thiết bị kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân đầu tiên của Apple làm cho cười không ngớt cho thiên hạ khi phân tích bản viết tay bị lỗi. Apple cuối cùng đã thực sự tham gia vào chương trình cấp bằng sáng chế - tương ứng với 20% doanh số theo sản phẩm Mac trước 1997.

Giá trị sáng tạo cốt lõi của quá trính phát triển công nghệ được giữ vững trong suốt giai đoạn chuyển biến này của Apple, nhưng quá trình ngày càng trở nên “truyền thống” hơn và tương tự với những hướng đi của nhiều công ty khác. Don Norman – một chuyên gia thiết kế nổi tiếng và là phó chủ tịch phụ trách mảng công nghệ tiến tiến trong công ty giai đoạn 1993 -1998 đã miêu tả:

            Có 3 tiêu chí đánh giá khi cho ra đời một sản phẩm: yêu cầu marketing, yêu cầu kĩ thuật, trải nghiệm của người dùng. ... Ba tiêu chí này được ban giám đốc thông qua, nếu được chấp thuận, nhóm thiết kế sẽ có ngân sách và một người đứng đầu. ...Cả đội sẽ cùng chung tay mở rộng hơn nữa những tiêu chí này, lên kế hoạch với hi vọng đáp ứng những yêu cầu marketing, kĩ thuật và trải nghiệm người dùng – thông số về ngày sản phẩm ra mắt, chu kì quảng cáo, chi tiết giá cả và thị hiếu khách hàng. Đây là quá trình tư vấn, nhưng lại thiếu đi sự gắn kết trong sản phẩm. 

Norman cho biết, có hơn 70 mẫu máy tính Macintosh Performa trong giai đoạn 1992 – 1997. Các nhà phê bình nhận định rằng việc ồ ạt cho ra các mô hình làm khách hàng không biết nên chọn cái nào và phức tạp gia tăng ở Apple.

Thể hiện xuất sắc

            Chẳng có hệ thống nào trong hệ thống cả, nhưng điều này không có nghĩa là chúng tôi làm việc không quy trình. Apple là một công ty rất có kỷ luật, và chúng tôi có những quy trình lớn. Nhưng không quan trọng nó về cái gì mà quy trình giúp bạn làm việc hiệu quả hơn. Chúng tôi đi đến sự cải tiến ngay khi tình cờ gặp nhau ở hành lang hay gọi cho nhau lúc 10h30 đêm khi có một ý tưởng mới ập đến, hay khi nhận ra điều gì đó giải quyết được khó khăn khi đang nhìn nhận vấn đề. Người cho rằng mình vừa tìm ra một thứ mới tuyệt nhất từng có và muốn nghe ý kiến của mọi người về ý tưởng mới này sẽ triệu tập cuộc họp đặc biệt sáu người. Và nhờ điều này chúng tôi đã phải khước từ 1000 ý tưởng để chắc chắn sẽ không đi sai đường hay nỗ lực vô ích. Chúng tôi luôn nghĩ tới những thị trường mới chúng tôi có thể thâm nhập, nhưng chúng tôi chỉ có thể nói “không” vì lẽ ta chỉ nên tập trung vào những thứ thực sự quan trọng.

Steve Jobs

Jobs lập tức hành động ngay khi trở về Apple vào tháng 8 năm 1997: cho ngừng chương trình cấp bằng sở hữu, đóng cửa hai bộ phận, cắt bớt 70% các dự án mới, ngừng sản xuât (và đưa dây chuyền sản xuất ra nước ngoài), thay đổi hệ thống phân phối, và cho ra đời một trang web bán hàng trực tiếp. Các dòng sản phẩm giảm mạnh (từ 15 xuống 3) và chiến lược marketing tinh vi cùng những đặc trưng dưới thời Jobs trước kia đã được phục hồi. Xét về trình độ thiết kế, phát triển và thực hiện, nhiều điểm theo đó cũng được lấy lại: hãng lại một lần nữa đi kiếm tìm “những sản phẩm vĩ đại đến bất thường” khi chính Jobs đã tham gia vào quá trình cải tiến sản phẩm. Chiếc iMac ra mắt lần đầu vào tháng 8 năm 1998.
Tim Cook – giám đốc tác nghiệp của Apple cùng làm việc với Jobs. Cook trước làm cho IBM và Compaq vào công ty năm 1998 với trọng trách “thanh lọc bộ máy sản xuất, phân phối và cung ứng đã tồi tàn của Apple” và nỗ lực giảm hàng tồn kho trong lẽ thường hàng tháng xuống trong vài ngày. Theo tạp chí Fortune Magazine:

            Apple thường xuyên làm nên những điều thần kì: cho ra mắt nhiều sản phẩm đột phá, chúng được tuyệt đối giữ bí mật đến tận khi kì diệu xuất hiện tại các cửa hàng trên khắp thế giới. Iphone, iPod, và bất cứ phiên bản iMac và MacBook nào – với sự nhất quán từ khâu giới thiệu đến phân phối không một sản phẩm nào xuất hiện không ấn tượng. ... Vào năm 2006, Apple chuyển toàn bộ dòng máy tính của hãng sang chạy bộ vi xử lý Intel. ... Đội của Cook chắc chắn doanh thu hãng sẽ tăng.

Khi Steve Jobs phải nghỉ phép để cấy gan vào năm 2009, Cook đã điều hành công ty. Nhiều sản phẩm lần lượt ra đời, cổ phiếu công ty tăng, Jobs trở lại, và iPad trình làng. Đáng kể mà nói, cùng thời điểm mà bộ máy còn nhiều bất cập được thanh lọc vào cuối những năm 1990, hướng phát triển chủ chốt vẫn được giữ vững: giữ mối quan hệ gần gũi với các nhà sản xuất và hòa hợp tuyệt đối với khách hàng.  Mark Rolston – phó chủ tích cấp cao của FrogDesign – đối tác thân thiết của Apple trong những năm 1980 có chia sẻ: “Apple vẫn rất quan tâm chọn lựa nguyên vật liệu và cách mọi thứ được sản xuất”. “Họ luôn không ngừng đặt câu hỏi liệu một nhà sản xuất có thể làm gì cho họ ... họ sẽ thay đổi quy trình của cả một nhà máy.” 

(Đón đọc kỳ 2)


0 Response to "CASE STUDY - TƯ DUY VÀ CẢI TIẾN THIẾT KẾ CỦA APPLE - KỲ 1"

Đăng nhận xét

Xem nhiều nhất

Xem nhiều nhất trong tháng