Ngành tài chính có tính đa dạng, và các
công ty trong ngành này có nhiều lợi ích khác nhau, đôi khi là xung
đột. Một quỹ S&L dường như là chẳng liên quan gì tới một quỹ đầu
tư mạo hiểm, và về nhiều mặt thì điều ấy cũng đúng. Nhưng tất cả
những tổ chức trong ngành này đều là căn nguyên và là người hưởng
lợi của quá trình tài chính hóa. Tuy nhiên, khi tôi nói về Phố Wall,
ý tôi nói tới các ngân hàng đa năng và ngân hàng đầu tư lớn. Bài
viết này, cùng với những sự cải tổ mà nó đề xuất, chủ yếu nói
về các tổ chức đó, và tập trung ít hơn vào các bộ phận khác của
ngành tài chính, ví dụ như các quỹ cổ phần tư hay công ty quản lý
tài sản lớn.
Quá trình tài chính hóa
Định nghĩa
và ý nghĩa
Quá trình tài chính hóa
là sự tăng lên về ảnh hưởng của các thị trường, tổ chức, và những
người đứng đầu trong ngành tài chính đối với xã hội cũng như là
các tổ chức khác trong xã hội, trong đó bao gồm chính phủ. Nước Mỹ
không phải là nước duy nhất đã trải qua quá trình tài chính hóa.
Nhà xã hội học Giovanni Arrighi và những người khác đã tìm thấy nhiều
ví dụ trong quá khứ, trong đó có Tây Ban Nha vào thế kỉ 14, Hà Lan
vào cuối thế kỉ 18, và Anh vào cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20.
Đáng chú ý, trong giai đoạn xảy ra quá trình tài chính hóa, người
dân Hà Lan và Anh Quốc đã tiến hành quan sát và tranh luận về quá
trình chuyển hóa của nền kinh tế. Những nhân vật ưu tú trong ngành
tài chính của hai nước, với nguồn tài sản tăng đáng kể trong quá
trình chuyển hóa, đã thuyết phục chính phủ đánh cược vận mệnh của
đất nước vào ngành tài chính. Ví dụ, trong năm 1925 chính phủ Anh đã
chọn theo đuổi chính sách đồng bảng mạnh, vốn làm lợi cho ngành
dịch vụ tài chính của nước này, thay vì một chính sách đồng bảng
yếu có thể giúp thúc đẩy ngành sản xuất.
Trong một nền kinh tế đã
được tài chính hóa, ngành tài chính đóng vai trò quyết định đến
tình trạng của cả nền kinh tế. Ví dụ, một nghiên cứu của IMF cho
thấy rằng, mặc dù một hệ thống tài chính mạnh quan trọng đối với
mức tăng trưởng ở giai đoạn đầu và trung hạn của một quốc gia, một
khi ngành này trở nên quá lớn – khi mức tín dụng tư nhân chiếm đến
80%-100% GDP –nó sẽ cản trở sự tăng trưởng và làm tăng tính bất ổn
của nền kinh tế. Tại Mỹ vào năm 2012, tín dụng tư nhân chiếm 183.8%
GDP. Ngoài những tác động đối với các công ty như Boeing, có hai cách
chủ yếu mà quá trình tài chính hóa tàn phá nền kinh tế. Thứ nhất
là, các hệ thống tài chính lớn và phức tạp hơn có nguy cơ sụp đổ
cao hơn – đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế học ủng hộ, trong
đó có Hyman Minsky, Charles Kindleberger, và Raghuram Rajan (người mà
trong năm 2005 đã lớn tiếng lập luận rằng những nguy cơ về bất ổn
tài chính cao hơn nhiều so với mức mà phần lớn các nhà kinh tế học
dự báo – sau đấy đã bị Larry Summers gạt đi, cho rằng ông chỉ là một
“Kẻ bảo thủ” vì đã quá hoài nghi về quá trình đổi mới tài chính).
Thứ hai, một hệ thống
tài chính phát triển quá mức có thể phân bổ các nguồn lực không
hiệu quả. Từ năm 1984 nhà kinh tế học được giải Nobel James Tobin đã
nhận xét rằng “ngành chứng khoán có mức đóng góp rất thấp cho tổng
mức đầu tư thực tế.” Ông cũng lo
lắng rằng “chúng ta hiện đang ngày càng lãng phí nguồn lực của
mình, trong đó bao gồm sức trẻ, vào các hoạt động tài chính xa rời
quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ… mà những hoạt động ấy
lại tạo ra khoản tiền thưởng cá nhân cao, vốn không tương xứng với
năng suất xã hội thực tế.”
Một phần vấn đề trên có liên quan đến nguồn
vốn. Các nghiên cứu của Özgür Orhangazi, một nhà kinh tế học, đã cho
thấy rằng khi quá trình tài chính hóa tăng lên, thì đầu tư vào tài
sản tài chính có xu hướng chèn ép đầu tư vào tài sản thực, vì thị
trường ưa những tài sản ngắn hạn và có tính thanh khoản hơn, và các
công ty phi tài chính chịu áp lực ngày càng cao trong việc chi trả cho
nhà đầu tư (chủ yếu thông qua cổ tức hay mua lại cổ phiếu) thay vì
mua tài sản thực.
Tuy nhiên, sự phân bổ
nguồn lực kém hiệu quả không chỉ do nguồn vốn, như Tobin đã nhận xét. Nó
còn liên quan đến yếu tố con người nữa. Nhà kinh tế học người Anh
Roger Bootle lập luận rằng tất cả các hoạt động kinh tế đều có thể
xếp vào loại “mang tính sáng tạo” hoặc “mang tính phân phối”. Công
việc mang tính sáng tạo giúp gia tăng sự giàu có của một xã hội.
Công việc mang tính phân phối thì chỉ chuyển của cải từ người này
sang người khác mà thôi. Tất cả các ngành trong nền kinh tế đều bao
gồm hai loại này. Nhưng hoạt động trong ngành tài chính chủ yếu là
mang tính phân phối.
Ngành dịch vụ tài chính
cũng có một dạng thức hoạt động phân phối ở mức cao gọi là “tìm
kiếm đặc lợi” (rent seeking[1]), bao
gồm việc cố kiếm lời từ việc điều khiển chính sách của chính phủ.
Các nhà kinh tế học Kevin Murphy, Andrei Shleifer, và Robert Vishny đã
chỉ ra rằng khi những người lao động có năng suất cao nhất của một
quốc gia chuyển từ các hoạt động tự doanh sang hoạt động tìm kiếm
đặc lợi thì tăng trưởng kinh tế chậm lại.
Phố Wall hiện đang lôi kéo
những con người tài giỏi và sáng giá nhất của nước Mỹ, và có quá
nhiều người trong số họ rốt cuộc lại phân phối của cải thay vì tạo
ra nó. Mỗi nhà khoa học máy tính hay kĩ sư xuất sắc, người làm việc
để giúp tiết kiệm một phần tỷ giây trong khoảng thời gian thực hiện
một giao dịch tần suất cao, lại không làm việc cho Google, Amgen, hay
Tesla (hoặc tạo nên một Google, Amgen, hay Tesla tiếp theo).
Một cách khác để xem xét
vấn đề này đó là xét mức độ giao dịch. Trong một số ngành, phần
lớn các giao dịch có tổng giá trị dương[2].
Khi bạn mua một chiếc ô tô từ hãng Ford, điều tuyệt vời nhất là một
năm sau cả bạn và Ford đều có lợi. Bạn sẽ thích có ô tô hơn là
tiền, còn Ford thì thích có tiền hơn ô tô. Mặc dù vậy, nếu như tôi
bán một phần cổ phiếu cho bạn, thì một năm sau chỉ một trong hai ta
là có thể vui vẻ được. Nếu giá cổ phiếu đi xuống, thì người đó là
tôi, còn nếu nó tăng, thì người đó là bạn (giả sử bạn vẫn giữ cổ
phiếu của mình).
Phần lớn hoạt động trong ngành tài chính
- ví dụ, hoạt động ngân hàng nhỏ lẻ và thương mại, hay bảo hiểm và
vốn mạo hiểm – đều thực hiện những giao dịch có lợi cho đôi bên. Tuy
nhiên, trong nhiều phân khúc của ngành này, mà bấy lâu nay có mức tăng
trưởng nhanh nhất kể từ khi nới lỏng luật – như các ngân hàng đầu tư -
các giao dịch chủ yếu là trò chơi có tổng bằng 0 [3].
Tiền lương trong ngành tài
chính là một dấu hiệu khác về quyền lực bất thường của ngành này.
Các nhà kinh tế học Thomas Philippon và Ariell Reshef đã phát hiện ra
rằng trước Đại Khủng hoảng, người lao động trong ngành tài chính
kiếm được nhiều hơn đáng kể so với những người làm việc trong các
ngành khác, thậm chí sau khi đã điều chỉnh cho trình độ học vấn cao
hơn. Sau khi đạo luật Glass-Steagall được thông qua, vào năm 1933, khoản
này giảm nhanh chóng, và tới năm 1980 nó biến mất. Sau khi luật được nới lỏng,
xu thế này đảo chiều mau lẹ, và cho đến năm 2006 thì khoản tiền này
đã trở lại ngang với mức hồi trước Đại Khủng hoảng.
Tất cả những người làm
việc trong ngành tài chính đều nhận được khoản lương thưởng lớn.
Trong năm 2006, tính trung bình, nhân viên trong ngành kiếm được nhiều
hơn 50% so với những người có trình độ học vấn cao tương đương nhưng
làm việc cho những ngành khác trong nền kinh tế. Tuy nhiên, đối với
những lãnh đạo tài chính cấp cao, con số đó là cực lớn. Họ kiếm
được nhiều hơn 250% so với những người đồng cấp làm việc trong lĩnh
vực phi tài chính. Đối với những lãnh đạo tài chính cấp cao ở Phố
Wall, con số thậm chí còn lớn hơn: Họ kiếm được nhiều hơn 300% so với
những người đồng cấp trong nền kinh tế thực. Tùy theo cách tính toán
của bạn, tiền lương trong ngành tài chính chiếm từ 15% đến 25% trong
tổng mức tăng về bất bình đẳng kinh tế tại Mỹ kể từ năm 1980.
Những hậu
quả của quyền lực
Vậy là chúng ta đang xem xét một ngành có
vai trò quan trọng (không một nền kinh tế hiện đại nào có thể tồn
tại được mà không có ngân hàng) nhưng mà là khi nó phát triển quá
lớn, có xu hướng cản trở tăng trưởng kinh tế, làm gia tăng bất bình
đẳng, và có những vụ sụp đổ khiến cho xã hội bị thiệt hại nặng
nề. (Vụ khủng hoảng tài chính năm 2008 đã tiêu tốn của chính phủ Mỹ
hơn 2 nghìn tỷ đô-la vì mất nguồn thu thuế và tăng chi tiêu.) Dù có
những hạn chế đó, ngành này vẫn ảnh hưởng lớn đến phần còn lại của nền kinh tế,
dù cho nhiều nhà quản trị biết rằng những đòi hỏi của ngành này làm
công ty của họ thiệt hại. Vậy nên chúng ta quay trở lại với câu hỏi
ở đầu bài viết. Tại sao nhiều xã hội (và nhiều người) lại hành
động ngược lại với lợi ích của chính mình?
Câu trả lời có thể được đưa ra chỉ với
hai cụm từ: Quyền-lực bất-cân-bằng. Cũng giống như lực hấp
dẫn của một hố đen làm dịch chuyển quỹ đạo của những ngôi sao cách
xa nhiều năm ánh sáng, quyền lực và thanh thế lớn lao làm thay đổi
hành vi của mọi người xung quanh chúng, cả trực tiếp và gián tiếp.
Cách trực tiếp là thông qua sự ép buộc và xui khiến: Làm những việc
tôi muốn, và anh sẽ được thưởng; không nghe lời tôi, thì anh sẽ bị trừng
phạt. Quyền lực trực tiếp thể hiện rõ ràng mỗi khi những khoản
quyên tặng làm lung lay lá phiếu của một chính trị gia.
Cách gián tiếp khó thấy
hơn nhiều nhưng lại quan trọng hơn. Quyền lực thật sự không đến từ
việc bắt ép người ta phải làm cái bạn muốn mà từ việc thay đổi
cách nghĩ của họ, đến mức họ muốn làm điều mà bạn muốn. Acton có
câu nói nổi tiếng, “Quyền lực có xu hướng tha hóa, và quyền lực
tuyệt đối thì sự tha hóa cũng tuyệt đối.” Chúng ta thường nghĩ đến
câu nói này như là một nhận xét về những ảnh hưởng của quyền lực
đối với những người nắm giữ nó. Nhưng Acton thực ra lại nói về
những tác động của quyền lực đối với sự đánh giá của chúng ta về
những người có quyền thế. Con người ta có xu hướng tự nhiên cho rằng
những người có quyền lực là lương thiện, liêm chính và chỉ làm điều
đúng đắn. Quyền lực và thanh thế có thể làm cho hành động của những
người nắm giữ chúng có vẻ tử tế hơn nhiều so với thực tế.
Khả năng của một nhóm có quyền lực có
thể thưởng cho những người ủng hộ nó và phạt những ai không cũng
làm méo mó sự tự do trao đổi ý tưởng. Điều này không liên quan đến
sự tha hóa – niềm tin vốn thay đổi theo lợi ích. Như Upton Sinclair đã
nói, “Khó có thể làm cho một người hiểu được điều gì đấy khi lương
của anh ta phụ thuộc vào việc không hiểu điều đó.” Kết quả có thể
là cả một xã hội oằn mình lên để phục vụ cho lợi ích của nhóm có
quyền lực lớn nhất, làm tăng thêm quyền lực cho nhóm đó, tạo thành
một vòng luẩn quẩn.
Điều này có thể xảy ra
ngay cả khi sự được/mất là cực lớn. Đây là một ví dụ trong quá khứ:
trước Thế chiến I, gần như mọi khía cạnh của xã hội Đức đều bị chi
phối bởi quân đội và các ngành cung ứng cho nó. Ghen tị với những
thuộc địa của Anh và thanh thế bắt nguồn từ sự vượt trội của Hải
quân Hoàng gia Anh, quân đội Đức muốn thành lập một lực lượng hải
quân có đủ tàu chiến để thách thức Hải quân Anh, dù hai quốc gia này
khá thân thiện với nhau. Để đạt được mục tiêu đó, hải quân Đức đã
trợ cấp cho Liên minh Hải quân, một tổ chức có nhiệm vụ việc gây áp
lực lên chính phủ để có được ngân quỹ dành cho hải quân nhiều hơn,
và thành lập một cơ quan thông tấn để tác động đến giới báo chí.
Lực lượng hải quân này cũng đã tuyển nhiều người trong số những nhà
nghiên cứu xuất chúng nhất (trong đó bao gồm Max Weber, có lẽ là nhà
xã hội học – nhà kinh tế chính trị học vĩ đại nhất trong thời đại
của ông) để đi khắp đất nước phát biểu thay mặt cho lực lượng này.
Kết quả là ngân quỹ dành cho hải quân tăng mạnh, điều này đã củng
cố thêm tầm ảnh hưởng của lực lượng hải quân đối với nền công
nghiệp Đức.
Hậu quả thật thê thảm.
Anh nhận thấy lực lượng hải quân Đức là một nguy cơ không thể chấp
nhận được nên đã liên minh với Pháp và Nga. Khi Thế chiến I xảy ra,
những tàu chiến đắt đỏ của Đức chẳng có đóng góp đáng kể nào, và
lực lượng hải quân của nước này chuyển sang tàu ngầm để làm suy yếu
Anh, điều này đã lôi Mỹ vào cuộc chiến, làm cho Đức cầm chắc thất
bại. Sự bất cân bằng trong cơ cấu quyền lực của Đức đã khiến cho
nước này tiêu tốn những nguồn lực khổng lồ vào một tài sản không
chỉ vô giá trị – mà còn có giá trị âm, vì nó khiến cho Anh và Mỹ
đứng về phe kẻ thù của Đức.
Ở Mỹ, tất nhiên là không
phải quân đội mà là ngành tài chính – đặc biệt là Phố Wall – có
quyền lực bất cân xứng. Một ngành tài chính mạnh quan trọng đối với
đất nước này. Hệ thống tài chính này là hệ tuần hoàn của nền kinh
tế. Không có nó, vốn không thể chảy tới nơi cần có vốn. Các ngân
hàng lớn đã thúc đẩy sự tăng trưởng đáng kinh ngạc của ngành tài
chính là trái tim của hệ thống tài chính này. Tuy nhiên, một trái
tim có thể phát triển lớn đến mức nó sẽ làm suy yếu cả cơ thể mà
nó phải duy trì và thậm chí không thể thực hiện được những chức năng
cơ bản. Nền kinh tế Mỹ đang phải chịu một trái tim quá khổ.
Giải quyết
vấn đề
Chúng ta cần phải đưa hệ
thống này trở lại trạng thái cân bằng. Do quyền lực và uy thế của
ngành tài chính là những sản phẩm của quy mô và mức sinh lời bất
thường của ngành này, chúng ta cần những sự cải cách giúp làm giảm
hai yếu tố này xuống mức lành mạnh mà không làm hạn chế những chức
năng cơ bản của ngành. Điểm cốt yếu là chọn những thay đổi giúp xóa
bỏ những méo mó do quyền lực của ngành tài chính tạo ra - những sự
cải tổ đáng thực hiện vì những lý do kinh tế thuần túy. Chúng sẽ
bị phản bác vì làm giảm mức sinh lời và quyền lực của một số
người trong ngành tài chính. Nhưng đó mới là vấn đề. Những cải cách
không gây ra điều đó sẽ chẳng có tác dụng gì.
Ý tưởng chính sách kinh tế nên xét đến
cả quyền lực cũng xưa như nước Mỹ, nó bắt nguồn từ thời chính phủ
đầu tiên của Washington và khi Jeferson và Hamilton còn bất đồng. Hai
người này có quan điểm khác nhau về sự phát triển của nền kinh tế
Mỹ, nhưng những quan điểm đó được định hình do niềm tin của họ về
những yếu tố sẽ thúc đẩy nền dân chủ cũng ngang với những thứ sẽ
tạo ra của cải. Trong thế kỉ 20, tư tưởng chống độc quyền của Louis
Brandeis – một trong những người thúc đẩy đạo luật Glass-Steagall –
xuất phát từ sự lo lắng của ông về tầm ảnh hưởng và sức mạnh mà
các công ty tài chính lớn có thể có được lên ngành công nghiệp và
chính phủ.
(Đón đọc kỳ 3 vào ngày 09/07/2015)
[1] Rent
seeking: là khái niệm kinh tế học do Anne Krugger (từng giữ vị trí Phó giám đốc
quĩ tiền tệ quốc tế IMF) đưa ra. Bà Krugger cho rằng khi được ưu đãi và bảo vệ,
các doanh nghiệp trong nước sẽ không chịu cải cách để nâng cao tính cạnh tranh
mà chỉ tìm cách xoay xở để giữ lại bổng lộc từ những ưu đãi và trợ giúp của nhà
nước. (theo Saga.vn)
[2] Positive
sum: Một thuật ngữ trong Lý thuyết trò chơi, thể hiện trường hợp
tổng doanh lợi và tổng mức lỗ của những người tham gia có giá trị
lớn hơn 0. (theo britannica.com)
[3] Zero sum:
Một thuật ngữ trong Lý thuyết trò chơi, thể hiện trường hợp tổng
doanh lợi và tổng mức lỗ của những người tham gia có giá trị bằng
nhau. (theo britannica.com)

0 Response to "CÁI GIÁ CỦA QUYỀN LỰC PHỐ WALL - KỲ 2"
Đăng nhận xét