Việc ưu đãi thuế đó cộng với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp rất cao ở Mỹ khiến cho nhiều công ty có động cơ cao để đi vay. Bỏ đi khoản tiền bao cấp cho nợ vay, bạn sẽ giảm được quyền lực của ngành tài chính đối với phần còn lại của nền kinh tế.
Dưới đây là một vài hướng tiếp cận khả khi đối với hình thức cải cách này:
Dưới đây là một vài hướng tiếp cận khả khi đối với hình thức cải cách này:
Hạn chế quy mô và đòn bẩy của các ngân
hàng. Những ngân hàng lớn
nhất nước Mỹ đã phát triển nhanh chóng sau khi nới lỏng luật và thậm
chí còn trở nên lớn hơn sau khủng hoảng. Trong năm 1995, tài sản của
sáu ngân hàng lớn nhất nước Mỹ tương đương 17% GDP của cả nước. Đến
năm 2006 con số đó đã tăng lên đến 55%. Đến năm 2013 con số này là 58%.
Các ngân hàng lớn bòn rút một khoản trợ cấp gián tiếp khổng lồ từ
chính phủ. Thị trường tin rằng những khoản nợ của chúng được chính
phủ ngầm bảo đảm, điều này làm giảm chi phí vay của những ngân hàng
này. Trong năm 2012, khoản trợ cấp này có giá trị 70 tỉ đô-la – tương
đương 2.5% tổng thu nhập từ thuế toàn liên bang – đã được cấp cho tám
ngân hàng lớn nhất nước Mỹ. Nếu như các ngân hàng được duy trì với
quy mô đủ nhỏ để chính phủ có thể để cho một ngân hàng bị phá sản,
thì quyền lực và trợ cấp cho chúng sẽ được giảm thiểu. Trong tạp chí 13 Bankers, Simon Johnson và James Kwak
đề xuất rằng lượng tài sản của các ngân hàng đa năng (bao gồm cả
hoạt động ngân hàng thương mại và đầu tư) không bao giờ nên vượt quá
4% GDP, và mức trần đối với các ngân hàng đầu tư nên được đặt ở mức
2%. Điều này sẽ chỉ ảnh hưởng đến một vài công ty, nhưng những công
ty đó lại nắm giữ quyền lực to lớn.
Theo cách thứ hai, các ngân hàng gia tăng
quyền lực của mình bằng cách tăng đòn bẩy tài chính. Điều này sẽ
làm tăng lợi nhuận nhưng đồng thời cũng làm tăng nguy cơ của chúng, vì
càng sử dụng đòn bẩy nhiều, các ngân hàng này càng dễ bị xóa sổ
chỉ với một sai lầm nhỏ. Nguy cơ này bị chuyển sang cho công chúng khi các
ngân hàng dựa dẫm vào gói cứu trợ kinh tế. Những vấn đề của một hệ
thống, nơi mà rủi ro thì chia đều khắp xã hội nhưng lợi tức thì lại
chỉ tập trung trong tay một số người, là hiển nhiên, nhưng quyền lực
chính trị của các ngân hàng đã ngăn chặn các cơ quan quản lý hành
động. Trong cuốn “Quần áo mới của
các nhà ngân hàng” (The Bankers’ New Clothes), hai nhà kinh tế học
Anat Admati và Martin Hellwig cho thấy
nếu như đòn bẩy ngân hàng bị hạn chế ở tỷ lệ 3:1 – tức là, nếu như
vốn chủ sở hữu chiếm ít nhất một phần tư tổng nguồn vốn của ngân
hàng – thì khả năng cho vay của ngân hàng sẽ không bị ảnh hưởng trong
khi lại giúp cải thiện đáng kể sự ổn định của hệ thống tài chính.
Tạo sân chơi bình đẳng cho nợ và vốn cổ
phần.Thị trường nợ lớn hơn
nhiều so với thị trường vốn, và nợ thì tạo ra nhiều rủi ro mà vốn
cổ phần không có. Một công ty vay nợ càng nhiều thì công ty đó càng
lệ thuộc vào thị trường tài chính. Trong cuốn sách “Cam kết lâu dài, Kết quả cao”, Mike
Beer, đồng nghiệp của tôi, đã mô tả cách thức những CEO dốc lòng cho
việc xây dựng nên những công ty lớn tránh vay nợ chính vì lý do
này. Tuy nhiên, luật thuế của Mỹ,
lại quy định những khoản trả lãi vay (chứ không phải cổ tức) được
miễn trừ thuế, tức là tài trợ cho nợ thay vì vốn cổ phần. Việc ưu
đãi thuế đó cộng với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp rất cao ở
Mỹ khiến cho nhiều công ty có động cơ cao để đi vay. Bỏ đi khoản tiền
bao cấp cho nợ vay, bạn sẽ giảm được quyền lực của ngành tài chính
đối với phần còn lại của nền kinh tế. Đồng nghiệp của tôi, Robert
Pozen đã đề xuất việc hạn chế những khoản miễn trừ kiểu như vậy
đồng thời hạ thấp mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp.
Đánh thuế các giao dịch tài chính. Một nguồn gốc khác của quyền lực và lợi
nhuận cho ngành tài chính là khối lượng khổng lồ các giao dịch trong
thị trường vốn ngày nay. Dù những giao dịch riêng lẻ có giá trị đến đâu,
nhưng tổng tất cả chúng khiến cho phần còn lại của xã hội, chứ
không phải các bên tham gia giao dịch, phải chịu những khoản chi phí
lớn (ví dụ như mức tăng trưởng chậm hơn và những gói cứu trợ kinh
tế định kì). Một cách để xử lý những thứ gây ảnh hưởng tiêu cực
đến xã hội là đánh thuế chúng.
Ngoài ra, chi phí giao dịch cổ phiếu thấp
cũng khuyến khích các nhà đầu tư xem cổ phiếu như là những công cụ
tài chính ngắn hạn, chứ không phải là những khoản đầu tư dài hạn.
Một loại thuế đánh vào các giao dịch tài chính – lúc đầu đã được
Keynes nghĩ ra vào năm 1936 và được Tobin áp dụng cho tiền tệ vào năm
1972 – sẽ giúp làm giảm tính bất ổn, hướng các nhà đầu tư đến với
một mục tiêu dài hạn hơn, và làm suy yếu một nguồn khác của quyền
lực tài chính. 40 quốc gia hiện áp loại thuế như vậy, và nước Mỹ đã
từng có từ năm 1914 đến năm 1966.
Coi thu nhập từ đầu tư như thu nhập thông
thường. Một khoản trợ cấp hữu
hiệu khác đối với nhiều tổ chức trong ngành tài chính bắt nguồn từ
mức thuế suất thặng dư vốn thấp. Trên lý thuyết thì điều này sẽ
khuyến khích đầu tư và do đó cũng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trên thực
tế mối liên hệ logic này không chặt chẽ. Các nghiên cứu do nhà kinh tế
học Leonard Burman và Cơ quan Nghiên cứu thuộc Nghị viện (một tổ chức
phi đảng phái) thực hiện cho thấy không có mối quan hệ nào giữa tăng
trưởng kinh tế của Mỹ với các mức thuế suất thặng dư vốn. Sự khác
biệt trong các mức thuế suất này đồng nghĩa với việc những người
có thu nhập từ các khoản đầu tư sẽ giữ lại nhiều hơn đáng kể so
với những người sống bằng sức lao động của bản thân. Sự chênh lệch
này làm gia tăng đáng kể thu nhập sau thuế của nhiều người làm trong
lĩnh vực tài chính (và của những nhà lãnh đạo được trả lương chủ
yếu bằng hợp đồng quyền chọn cổ phiếu – một hình thức trả lương
dựa trên quan điểm sai lầm rằng việc tối đa hóa lợi nhuận của cổ
đông là trách nhiệm duy nhất của nhà lãnh đạo). Điều đó tất nhiên
sẽ làm gia tăng quyền lực và thanh thế của họ. Vậy thì tại sao
chính phủ lại phải hi sinh lợi ích của những nhà khoa học và quân
lính để trợ cấp cho những người làm trong ngành tài chính và nhà
lãnh đạo cấp cao trong khi làm vậy chẳng đem lại lợi ích kinh tế nào
cả? Một chính sách dựa trên một lý thuyết có vẻ hợp lý nhưng lại
sai lầm – mà lý thuyết ấy trong thực tế chỉ có lợi cho một nhóm
người ưu tú – là một ví dụ kinh điển về lối tư duy méo mó do quyền
lực bất cân xứng gây ra.
Trong một thời gian dài, ngành tài
chính của Mỹ đã tăng trưởng mạnh, làm giàu cho những nhân vật có
quyền lực nhất trong ngành, và được chính phủ và nhiều doanh nghiệp
trong nước xin ý kiến. Cùng thời gian đó, quá trình tài chính hóa
của Mỹ đã lấn lướt và thậm chí cản trở những thành quả quan trọng
của phần lớn những người trong ngành, từ những nhà ngân hàng bán lẻ
và ngân hàng thương mại cho đến những nhà đầu tư mạo hiểm và những chuyên viên tính
toán bảo hiểm.
Những doanh nghiệp không hoạt động trong
lĩnh vực tài chính cần phải coi việc lấy lại trạng thái cân bằng
là ưu tiên. Chỉ có quyền lực mới có thể chống lại quyền lực, và
dù cho Phố Wall có mạnh thế nào đi nữa, các doanh nghiệp tạo nên phần
còn lại của nền kinh tế còn mạnh hơn nhiều. Ý kiến cho rằng hầu
hết các thị trường đều đang bị quản lý chặt chẽ quá mức còn thị
trường tài chính thì lại được kiểm soát rất lỏng lẻo – như việc
bãi bỏ quy định đối với các hãng hàng không là một ý hay nhưng làm
thế đối với các ngân hàng lại là một thảm họa – là hoàn toàn nhất
quán. Thị trường tài chính không giống những thị trường khác do đó
cũng cần phải được xem xét theo cách khác. Cộng đồng các doanh nghiệp
Hoa Kỳ - những người nhận thức được rằng
quá trình tài chinh hóa sẽ cản trở thành công của họ - là một lực lượng cần
phải tính đến.
Nhiều doanh nghiệp phi tài chính đã bắt
đầu phản pháo. Năm ngoái, tờ Thời báo New York đã đưa tin các tổ
chức tài chính lớn đã lợi dụng quyền sở hữu những kho hàng chứa
nhôm của mình (riêng Goldmann đã sở hữu các kho lưu giữ 70% lượng nhôm
tồn kho của Bắc Mỹ) để đẩy giá nhôm lên, làm cho người tiêu dùng Mỹ
bị thiệt hại 5 tỷ đô-la kể từ năm 2010. Các công ty sử dụng nhôm phàn
nàn, dẫn đến một phiên điều trần trước Thượng viện và Cục dự trữ liên bang phải
xem xét lại một quy định năm 2003 cho phép ngân hàng được kinh doanh
hàng hóa hữu hình. Khi các doanh nghiệp nhận ra đây chỉ là một trường hợp cụ thể của một vấn
đề mang tính tổng quát hơn, họ cần thúc đẩy cải cách tài chính mạnh
mẽ như họ tiến hành với bất kỳ vấn đề nào khác ảnh hưởng mật
thiết đến năng lực cạnh tranh của mình.
Khả năng lãnh đạo cũng
cực kì quan trọng. Trong bài viết “Khi
các nhà lãnh đạo thật sự quan trọng”, tôi đã mô tả cách thức mà
một người phù hợp, tại vị trí và thời điểm thích hợp, có thể
biến đổi cả những công ty, hệ thống quân đội, và thậm chí cả quốc
gia, dù cho những người lãnh đạo doanh nghiệp nhiều khi bị phụ thuộc
vào hoàn cảnh. Abraham Lincoln đã vực dậy cả nước Mỹ từ khói lửa
của cuộc Nội chiến. Franklin Roosevelt đã mang lại cho người dân Mỹ
một Chính sách kinh tế mới khi họ còn đang chìm sâu trong Đại Khủng
hoảng. Những người lãnh đạo – đặc biệt là các vị tổng thống – có
thể tái định hướng cuộc tranh luận chính trị này và giúp cả đất
nước đạt được một trạng thái cân bằng mới, tốt hơn về chính trị.
Sau khủng hoảng 2008, khi đó hệ thống tài chính có lẽ quá yếu ớt
để mạo hiểm với những cải cách giống như những cải cách được mô tả
trong bài này. Trong năm 2013, hệ thống này đã hoạt động hiệu quả
đến mức một khoản tiền thưởng tại Phố Wall có giá trị trung bình
là 164530 đô-la – mức cao nhất kể từ năm 2007. Tuy nhiên, chúng ta tiếp
tục phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp kéo dài, tăng trưởng
kinh tế chậm, mức thu nhập trung bình trì trệ, và mọi đặc điểm khác
của một nền kinh tế bị tổn thương đã hoạt động yếu kém quá lâu đến
mức nó có nguy cơ trở thành chuyện thường.
Không nhất thiết phải như
thế. Phản ứng của Roosevelt đối với đề nghị “sửa đổi sai lầm” của
Morgan đã rõ ràng: “Điều đó không thể làm được.” Viện chưởng lý
dưới quyền ông giải thích rằng, “Chúng tôi không muốn sửa đổi nó.
Chúng tôi muốn dừng nó lại.” Hai năm sau, chính quyền của Roosevelt đã
phụ lòng tin của Morgan. Morgan trước đây có quyền lực lớn hơn bất kì
nhà tài phiệt nào ngày nay. Ông ta đã có thể nắm giữ tới 40% nguồn
vốn tại Mỹ. Nhưng điều đó không ngăn Roosevelt chống lại ông ta.
Những gì chúng ta làm bấy lâu nay không có
tác dụng. Nó không có tác dụng thậm chí trước khủng hoảng, khi bong
bóng bất động sản che đậy những vấn đề sâu xa hơn của nền kinh tế.
Tất cả mọi người đều dễ dàng nhận thấy rằng nền kinh tế hiện nay
không mang lại công ăn việc làm và thu nhập như người dân Mỹ mong muốn.
Chúng ta có thể tái cân bằng xã hội và để cho những công ty Hoa Kì
tự do làm những điều họ vốn đã làm rất tốt – tạo ra sự giàu có
làm lợi cho tất cả người dân Mỹ. Chúng ta có thể làm tốt hơn thế. Lựa
chọn này tùy thuộc vào chính chúng ta.

0 Response to "CÁI GIÁ CỦA QUYỀN LỰC PHỐ WALL - KỲ 3 (KẾT THÚC)"
Đăng nhận xét