LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẮT ĐẦU MỘT CUỘC CÁCH MẠNG KHỞI NGHIỆP - KỲ 1


Để châm ngòi cho việc khởi tạo và phát triển doanh nghiệp, các chính phủ cần phải xây dựng nên một hệ sinh thái giúp dung dưỡng những doanh nhân khởi nghiệp. Dưới đây là những điều thực sự có tác dụng.


Tác giả: Daniel J. Isenberg là giáo sư giảng dạy phương pháp quản trị tại trường Babson College và là giám đốc điều hành Dự án Babson Entrepreneurship Ecosystem. Bài báo gần đây nhất của ông đăng trên Harvard Business Review là “Doanh nhân khởi nghiệp Toàn cầu” (The Global Entrepreneur – tháng 12/2008) 

Dịch giả: Phạm Thạch Ngọc - Đại học Ngoại thương

Thẩm Định: TS. Lê Thế Bình - Đại học Ngoại thương


TÓM TẮT Ý TƯỞNG



Ý tưởng lớn: Các chính phủ trên khắp thế giới đang dần nhận thức được rằng tinh thần khởi nghiệp có thể làm thay da đổi thịt nền kinh tế quốc gia họ. Thế nhưng hầu hết nỗ lực nhằm thổi bùng lên công cuộc khởi tạo doanh nghiệp đều bị phí phạm vào việc cố gắng thực hiện điều không thể - đó là tạo ra một Thung Lũng Silicon nữa.
Những nghiên cứu gần đây và kinh nghiệm cho thấy: diện mạo của tinh thần khởi nghiệp đang thay đổi trên toàn thế giới – và những cách làm tốt nhất lại đến từ những nơi đầy bất ngờ. Những gì đang hoạt động cho chúng ta nhiều bài học giá trị.
Cách tiếp cận ưu việt hơn: Không có công thức chính xác nào cho việc tạo ra một nền kinh tế khởi nghiệp cả; chỉ có một con đường đi thực dụng. Để thúc đẩy tăng trưởng của một hệ sinh thái khởi nghiệp, các nhà lãnh đạo nên đi theo chín nguyên tắc then chốt – vài nguyên tắc nghe có vẻ vô lý – sẽ giúp xây dựng một khu vực kinh doanh sôi động.

Trong danh sách xếp hạng “Những khu vực thuận lợi để kinh doanh” mới nhất do World Bank công bố, có một quốc gia đã thể hiện bước nhảy vọt rất ấn tượng – từ vị trí thứ 143 lên vị trí thứ 67. Đó là Rwanda, nơi dân số và các cơ quan, thể chế từng bị tàn phá nặng nề bởi nạn diệt chủng những năm 1990. Trong danh sách này của World Bank, Rwanda vượt xa các nước trong khu vực gồm Haiti, Liberia và khu Bờ Tây dải Gaza và thậm chí còn qua mặt Ý, Cộng hoà Séc, Thổ Nhĩ Kì và Phần Lan. Trong nghiên cứu này, có một chỉ số phụ đánh giá về mức độ dễ dàng khi mở một doanh nghiệp mới và Rwanda xếp thứ 11 toàn cầu.

Bạn có thể thấy và cảm nhận được dấu hiệu cuộc Cách mạng kinh tế của Rwanda tại Costco – một trong những đối tác giao thương khó tính nhất trong giới bán lẻ. Trên các kệ hàng ở đây chất đầy những hạt cà phê hắc được trồng bởi các nông dân làm kinh tế nhỏ trong nước. Và bằng chứng rõ ràng nhất phải kể đến đó là GDP bình quân đầu người của Rwanda đã tăng gần 4 lần kể từ năm 1995.

Đây là sự thay đổi mà việc kinh doanh có thể mang lại cho một quốc gia. Paul Kagame – Tổng thống Rwanda gần đây đã phát biểu rằng “Tinh thần khởi nghiệp là con đường đảm bảo nhất cho sự phát triển.” Không chỉ mình ngài Tổng thống nghĩ vậy. Các nghiên cứu kinh tế trên toàn cầu đã cho thấy mối liên hệ bền vững giữa công ty khởi nghiệp – đặc biệt là loại hình doanh nghiệp tăng trưởng nhanh, với việc tạo ra công ăn việc làm nhanh chóng, tăng trưởng GDP và gia tăng năng suất sản xuất trong dài hạn.

Bạn sẽ thấy nhiều minh chứng rõ ràng hơn từ những câu chuyện khởi nghiệp thành công đến bất ngờ trên những kệ hàng của Costco. Cách kệ cà phê Rwanda vài bước chân, bạn đã có thể có cá tươi từ Chile – Nhà cung cấp cá hồi lớn thứ 2 thế giới chỉ sau Na Uy. Cá Chilê tại các siêu thị ở Hoa Kì được cung cấp bởi hàng trăm doanh nghiệp đánh bắt mới nở rộ trong những năm 1980 và 1990. Cách đó vài dãy hàng là thiết bị nhớ USB được phát minh và sản xuất ở Israel – quốc gia sở hữu những doanh nhân năng động, bắt đầu cung cấp công nghệ tiến bộ cho thế giới từ những năm 1970. Ở một góc, quầy dược phẩm Costco bày bán các loại thuốc gốc (generic drugs) sản xuất bởi Actavis của Iceland – công ty nổi lên như cồn, lọt vào top 5 những công ty sản xuất thuốc gốc hàng đầu thế giới chỉ trong vòng 10 năm.

PHỤ CHÚ 1:
Rwanda: Từ Hoạ Diệt chủng cho đến kệ hàng của Costco
Nếu bạn biết chỉ trong vòng hai thập kỉ trước, gần một triệu người đã bị tàn sát ở Rwanda trong 100 ngày, thì vị trí hiện tại của đất nước này trong giới kinh doanh toàn cầu thực sự gây ấn tượng sâu sắc.
Thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp là một cương lĩnh chính của ngài tổng thống Paul Kageme dành cho quốc gia. Vào năm 2001, ông ấy đã khởi động chương trình Sáng tạo Quốc Gia Rwanda (Rwanda National Innovation) và sáng kiến Cạnh Tranh. Hai chương trình này nằm trong số những nỗ lực khác đã giúp phát triển một “chiến lược cà phê quốc gia” tập trung vào xây dựng một thương hiệu cà phê Rwanda Bourbon Specialty Coffee.
Với sự giúp đỡ từ những cố vấn của OTF Group, Rwanda đã xác định được các khoản đầu tư trị giá hơn 100 triệu đôla để cải thiện quá trình rửa hạt cà   phê, sản xuất, cất trữ và marketing. Một hợp tác giữa các cơ quan nông nghiệp ở Rwanda với Đại học bang Michigan và Texas A&M đã kết nối người trồng cà phê ở địa phương với người mua cà phê đặc sản ở Hoa Kì và Châu Âu. Hai sự kiện nổi bật đã diễn ra vào năm 2006: Starbucks trao cho cà phê
thương hiệu Blue Bourbon của Rwanda giải thưởng Black Apron và giới thiệu loại cà phê này ở các cửa hàng của hãng. Trong một chuyến thăm tới Hoa Kì, tổng thống Kagame đã gặp gỡ Jim Sinegal – CEO của Costco, để quảng bá cà phê Rwanda. Costco sau này trở thành một trong hai đơn vị lớn nhất mua cà phê Rwanda, ước lượng khoảng 25% tổng thu hoạch cà phê cao cấp của đất nước này

Rwanda, Chile, Israel và Iceland tất cả đều là những mảnh đất màu mỡ để khởi nghiệp – nhờ những nỗ lực không nhỏ của chính phủ các nước này. Mặc dù các công ty sản xuất những sản phẩm bày bán trên kệ của Costco được thành lập bởi các doanh nhân đầy sáng tạo, thế nhưng những doanh nghiệp này đều được hỗ trợ không trực tiếp thì gián tiếp từ các nhà lãnh đạo chính phủ - những người góp sức xây dựng nên môi trường giúp nuôi dưỡng và duy trì bền vững doanh nghiệp khởi nghiệp. Hệ sinh thái khởi nghiệp này đã trở thành một loại Chén Thánh đối với các chính phủ khắp nơi trên thế giới - ở cả các nước đã và đang phát triển.

Thật không may, nhiều chính phủ đã có những bước tiếp cận lệch lạc khi xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp. Họ theo đuổi những mô hình hệ sinh thái hoàn toàn không khả thi và học tập theo cách làm từ những nền kinh tế không hề có điểm chung với nền kinh tế ở quốc gia họ. Nhưng gần đây các cách làm hiệu quả nhất lại đến từ những miền đất xa xôi trên thế giới, nơi các tài nguyên – cũng như khung pháp lí, sự điều hành minh bạch của chính phủ và các giá trị dân chủ đều khan hiếm. Ở những khu vực này, khởi nghiệp có một diện mạo hoàn toàn mới.

Những cách làm mới này tỏ ra rất mù mờ và thường được rút ra từ phương pháp thử rồi loại trừ. Các nhà lãnh đạo không nên chùn bước bởi sự rắc rối này. Chính phủ cần phải áp dụng toàn bộ kinh nghiệm hiện có và cam kết thực hiện các thử nghiệm không ngừng. Họ sẽ phải tuân theo một bộ những quy định chưa hoàn thiện và được thay đổi liên tục. Sau đó không ngừng đánh giá và sàng lọc chúng. Các phương án thay thế - mất thập kỉ để trình ra được một bộ chỉ dẫn chuẩn mực, hành động kiểu hên xui hay chẳng làm gì cả - đều không thể chấp nhận được.

Nhưng các chính phủ không thể tự mình làm tất cả mọi việc; khu vực tư nhân và phi lợi nhuận cũng phải chung vai gánh vác một số trách nhiệm. Trong rất nhiều trường hợp, các nhà điều hành doanh nghiệp, chủ sở hữu doanh nghiệp gia đình, các trường đại học, các tổ chức chuyên nghiệp, các quỹ, tổ chức lao động, các nhà tài phiệt và tất nhiên là cả bản thân những chủ doanh nghiệp đã khởi tạo và thậm chí là rót tiền cho công tác đào tạo kinh doanh, cho các hội nghị, nghiên cứu và bảo hộ chính sách. Đôi khi những sáng kiến tư nhân làm cho chính phủ dễ dàng hơn trong việc hành động nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn. Đồng thời, tất cả những người đặt cược vào doanh nghiệp – chính phủ và những bên liên quan – nên nắm lấy mọi cơ hội để thể hiện bản lĩnh lãnh đạo thật sự.

Để tiến lên, các nhà lãnh đạo cần những chỉ dẫn tuy dở dang nhưng phải thực tế và có tính định hướng. Từ những gì chúng tôi được biết trong nghiên cứu và thực tiễn, những điều dưới đây thực sự có tác dụng thúc đẩy những hệ sinh thái khởi nghiệp đang phát triển mạnh.

Chín quy tắc để tạo lập nên một hệ sinh thái khởi nghiệp

Hệ sinh thái khởi nghiệp bao gồm một tập hợp các yếu tố riêng rẽ - ví dụ như khả năng lãnh đạo, văn hoá, thị trường vốn và những khách hàng sẵn sàng tiếp thu cái mới - được kết hợp lại theo nhiều cách phức tạp. Tách riêng chúng ra thì mỗi yếu tố đều có thể tiếp sức cho tinh thần khởi nghiệp nhưng lại không đủ để duy trì tinh thần đó. Đây là lúc các chính phủ gặp rắc rối – họ chỉ chú tâm vào một hoặc hai yếu tố. Tuy nhiên, khi kết hợp lại, những yếu tố này giúp tăng tốc quá trình hình thành và tăng trưởng. Khi tích hợp những yếu tố đó vào hệ thống chính thể, các nhà lãnh đạo chính phủ nên tập trung vào 9 quy tắc quan trọng sau đây.

1.Hãy dừng việc ganh đua với Thung Lũng Silicon lại. 
Tham vọng chung và quá phổ biến được trở thành một Thung lũng Silicon thứ hai đã khiến nhiều chính phủ chán nản và gặp thất bại. Việc Thung lũng Silicon là “tiêu chuẩn vàng” cho hệ sinh thái khởi nghiệp - quê hương của những kẻ khổng lồ công nghệ làm khuấy đảo thị trường như Intel, Oracle, Google, eBay và Apple – có lẽ không phải bàn cãi nhiều. Silicon có tất cả mọi thứ: công nghệ, tiền bạc, các tài năng, một lượng lớn các doanh nghiệp quan trọng cùng với văn hoá khuyến khích sự hợp tác sáng tạo và dung thứ cho các thất bại. Thế nên cũng dễ hiểu khi các nhà lãnh đạo trên khắp thế giới đều hướng con mắt tới California và bày tỏ sự thèm khát của mình.

Tuy nhiên, ghen tị với Silicon là điều sai lầm bởi ba lí do sau. Thứ nhất, thật mỉa mai là Thung lũng Silicon có thể đã chẳng trở thành Thung lũng Silicon nếu nó cố trở thành Thung lũng Silicon như bây giờ. Hệ sinh thái của Silicon phát triển dưới một tập hợp các điều kiện độc nhất: ngành hàng không vũ trụ ở địa phương phát triển mạnh mẽ, văn hoá cởi mở của California, mối quan hệ hỗ trợ giữa Đại Học Stanford với ngành công nghệ, một mỏ các phát minh từ Fairchild Semiconductor, hay chính sách nhập cư thông thoáng dành cho những học viên theo học lên tiến sĩ và nằm trong những thứ còn lại bao gồm cả may mắn thuần tuý. Tất cả những nhân tố đó đã khởi tạo nên một sự phát triển hỗn loạn thách thức cả tính tất yếu của mối quan hệ nhân quả.

Hơn thế, Thung Lũng Silicon có nhiều, thậm chí hơn cả mức thừa thãi, các loại công nghệ và chuyên gia kĩ thuật. Phát triển “ngành công nghiệp tri thức” – câu cửa miệng của mọi chính phủ trên toàn cầu, là một khát vọng đáng khâm phục, thế nhưng để đạt được điều đó đòi hỏi những khoản đầu tư khổng lồ, kéo dài nhiều thế hệ vào giáo dục cũng như cần cả khả năng phát triển những sở hữu trí tuệ đẳng cấp thế giới. Trên hết, một ngành công nghiệp trí tuệ đòi hỏi cực kì nhiều công nghệ và cả diện tích để chứa các loại rác thải. Biết rằng các nhà đầu tư mạo hiểm đầu tư vào nhiều nhất 1% trong tổng số các doanh nghiệp công nghệ mà họ để mắt tới, và một lượng lớn những công ty trong số 1% đó sẽ thất bại.

Hạn chế thứ ba đó là mặc dù Thung Lũng Silicon có vẻ như là nơi chắp cánh cho các doanh nghiệp trong khu vực bay xa, nhưng thực tế, nơi này là một thỏi nam châm cực mạnh thu hút hàng đàn các doanh nghiệp “cựu binh” khắp hoàn cầu tập trung lại và tạo ra những tiểu văn hoá dân tộc và tổ chức của riêng họ, thứ mà Gordon Moore – một lão làng của Thung Lũng, gọi là “ngành công nghiệp cấy ghép.” Việc khuyến khích một hệ sinh thái giúp thúc đẩy những cư dân ở đó lập doanh nghiệp và đi tới thành công đã khó, thì việc tạo ra một “thánh địa Mecca” cho các nhà doanh nghiệp thậm chí còn nản giải hơn nhiều.

2 Xây dựng hệ sinh thái Xoay quanh Điều kiện của địa phương. 
Nếu không phải là Thung Lũng Silicon thì đâu là tầm nhìn mà các lãnh đạo chính phủ nên khao khát hướng tới? Điều khó khăn nhất, thế nhưng lại rất cần thiết, cho các chính phủ đó là họ phải biết “đo chân mà đóng giày” sao cho vừa vặn với quy mô, phong cách và môi trường kinh doanh của đất nước mình.

Sự khác biệt rõ ràng giữa Rwanda, Chile, Israel và Iceland đã cho thấy một quy tắc rằng các nhà lãnh đạo có thể và bắt buộc phải khuyến khích những giải pháp “cây nhà lá vườn” – những giải pháp dựa trên thực tế hoàn cảnh của họ, có thể là tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lí hay là văn hoá. Chính phủ Rwanda đã áp dụng mạnh mẽ chiến lược can thiệp vào những năm hậu diệt chủng, xác định được ba ngành công nghiệp địa phương (cà phê, chè, du lịch) được chứng minh là có tiềm năng phát triển. Rwanda tích cực tổ chức các cơ quan giúp đỡ hỗ trợ những ngành này bằng cách, ví dụ như, huấn luyện nông dân cách trồng và đóng gói cà phê theo tiêu chuẩn quốc tế và bắt mối họ với những kênh phân phối ở hải ngoại. Ưu tiên ngay lúc đó của Rwanda là cung cấp cơ hội việc làm có lợi cho hàng triệu người. Nỗ lực của đất nước này đã mang lại 72,000 doanh nghiệp mới, hầu như tất cả trong số doanh nghiệp đó có hai đến ba người vận hành, giúp tỉ lệ nghèo đói giảm 25% và tăng gấp ba lần lượng xuất khẩu trong một thập kỉ.

Chile cũng chú trọng đến những ngành mà họ có dồi dào tài nguyên thiên nhiên để phát triển – ví như đánh bắt cá. Như Rwanda, chính phủ Chile đã sử dụng lối tiếp cận can thiệp mạnh mẽ vào hệ sinh thái khởi nghiệp trong những năm đầu cầm quyền của Augusto Pinochet, lí tưởng về thị trường tự do của nhà độc tài này khiến tầng lớp trung lưu ở Chile có thể dễ dàng được cấp vốn và giấy phép hoạt động đánh bắt hơn. Chính phủ Chile cũng thực hiện đàn áp lực lượng lao động (đôi khi đến mức tàn bạo) nhằm giảm thiểu chi phí đầu vào của các doanh nghiệp và để giữ giá đồng tiền Chile ở mức thấp, qua đó duy trì tính cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu.

Tuy nhiên, tài nguyên thiên nhiên thường không phải là thành phần chính của một hệ sinh thái. Các doanh nghiệp thường được kích thích khi nguồn tài nguyên khan hiếm, đòi hỏi con người phải sáng tạo hơn. Đài Loan, Iceland, Ireland, và New Zealand, những quốc đảo nghèo tài nguyên nằm cách xa các thị trường lớn, tất cả đều phát triển những hệ sinh thái dựa chủ yếu vào nguồn lực con người. Israel cũng vậy. Vào những năm 1970 và 1980, hệ sinh thái độc đáo của quốc gia này phát triển rất phóng túng ra ngoài phạm vi kết hợp của các nhân tố bao gồm: sức lan toả từ các công tác R&D lớn trong quân đội, những liên kết vững chắc của cộng đồng Do Thái với nguồn vốn và với khách hàng, và một nền văn hoá đề cao sự chắt chiu, việc giáo dục và những hiểu biết độc đáo.

3.Tiếp cận Khu vực Tư nhân ngay từ đầu. 
Chính phủ không thể đơn độc xây dựng nên được những hệ sinh thái. Chỉ có khu vực tư nhân mới có động lực và triển vọng phát triển các thị trường tự duy trì và dẫn dắt bởi lợi nhuận. Do đó, chính phủ phải lôi kéo khu vực tư nhân vào từ rất sớm và để khu vực này duy trì và cho họ nắm lấy thêm phần rủi ro đặt cược vào thành công của hệ sinh thái.

Hãy bắt đầu với những cuộc đối thoại vô tư. Có một cách để lôi kéo khu vực tư nhân đó là tìm tới các đại diện của họ để sớm xin những lời khuyên thẳng thắn nhằm giảm thiểu những rào cản về tổ chức và hoạch định nên những chính sách và chương trình thân thiện với doanh nghiệp. Những chuyên gia không thể tìm thấy ở trong nước thường vẫn có thể được tìm thấy trong số những người xa xứ ở hải ngoại. Trong những năm 1980, chính phủ Đài Loan đã móc nối với cộng đồng người Đài Loan ở nước ngoài và tham vấn trong cộng đồng đó những điều hành viên nổi bật của các công ty công nghệ dẫn đầu ở Hoa Kì và lập ra nhiều diễn đàn để thu thập ý kiến từ những người này. Chính phủ Đài Loan thật sự đã xây dựng nên những chương trình dựa trên gợi ý của các Đài kiều. Cộng đồng này thích việc ý kiến của họ được chính quyền triển khai đến nỗi họ ồ ạt quay trở về quê nhà vào những năm 1990, rất nhiều người trong số này nắm giữ những vị trí nổi bật trong chính phủ hoặc điều hành các nhà máy mới được thành lập. Ví dụ, Morris Chang, nguyên là phó chủ tịch Tập đoàn Texas Instruments, đã hồi hương, thành lập và điều hành TSMC – nhà máy sản xuất bán dẫn xuất hiện thứ hai của Đài Loan.

PHỤ CHÚ 2:
Đài Loan: Mang những Doanh nhân xa xứ về quê hương
Đài Loan là một ví dụ cho việc các nhà lãnh đạo cương quyết có thể biến quá trình chảy máu chất xám trở thành quá trình thu về chất xám như thế nào.
Giáo sư AnnaLee Saxenian của Đại Học California đã thuật lại câu chuyện vào năm 1960. Khi ấy, nhiều kĩ sư đã rời khỏi Đài Loan để học tập và làm việc ở Hoa Kì. Suốt thập kỉ đó, các lãnh đạo chính quyền Đài Loan đã nhận ra nhu cầu về khởi nghiệp của đất nước và bắt đầu gửi những phái đoàn sang Thung Lũng Silicon để học hỏi tại sao khởi nghiệp lại nở rộ ở đó đến vậy. Đến những năm 1970, nhiều kĩ sư Đài Loan đã trở thành những nhà điều hành công nghệ ở Hoa Kì. Họ tham gia hội những người xa xứ và thực hiện các
cuộc gặp gỡ trên nền tảng lâu dài với những nhà làm chính sách ở Đài Loan để thảo luận về việc phát triển chuyên môn rồi sau đó là phát triển chính sách. Vào những năm 1980, Premier Y.S. Sun thiết lập Nhóm cố vấn Khoa học và Công nghệ (Science and Technology Advisory Group – STAG) bao gồm 15 Đài kiều ưu tú (cũng như một vài nhà điều hành công nghệ nước ngoài) nhằm giúp đỡ chính phủ xây dựng cơ sở hạ tầng khoa học và giáo dục cho cả một thế hệ các doanh nhân khởi nghiệp công nghệ. STAG và những cuộc hội đàm với những Đài kiều
tại Hoa Kì đã rất thành công trong việc giúp đỡ chính quyền Đài Loan củng cố hệ sinh thái khởi nghiệp của họ, làm đảo ngược quá trình chảy máu chất xám. Giữa năm 1988 và 1998, 40,000 kĩ sư Đài Loan đã hồi hương để theo đuổi và tạo lập các cơ hội. Nhiều người đã trở thành quản lí cấp cao ở những công ty mới, người đứng đầu các cơ quan nghiên cứu và đào tạo của chính quyền, doanh nhân hoặc nhà tài phiệt. Điều này đã làm hình thành nguồn lực con người - xương sống của ngành linh kiện IT đang đâm chồi của Đài Loan

4. Thiết kế cơ chế Tự thanh khoản (self-liquidation) 
Vào năm 1993, chính phủ Israel lập nên quỹ Yozma trị giá 100 triệu đôla giúp sản sinh ra 10 quỹ vốn đầu tư mạo hiểm trong ba năm. Ba bên gồm Yozma, một đối tác tư nhân của Israel và một đối tác tư nhân nước ngoài được chứng nhận có chuyên môn quản lí quỹ tất cả cùng đầu tư một lượng tiền xấp xỉ nhau vào mỗi quỹ. Từ khi bắt đầu, chính phủ Israel đưa ra một tuỳ chọn mua đứt quyền lợi với những điều khoản hấp dẫn dành cho các đối tác tư nhân – điều thường xuyên bị làm ngơ bởi các chính phủ bắt chước mô hình Yozma. Lựa chọn đó được thực hiện theo cách mang lại lợi nhuận cho chính phủ ở 8/10 quỹ. 5 năm sau khi Yozma thành lập, phần tài sản còn lại được thâu tóm qua hình thức đấu giá. Sự rút lui của chính phủ là bằng chứng thị trường cho thấy giá trị thực sự đã được tạo ra. Giá trị đó là một trong những lí do ngành cấp vốn mạo hiểm của Israel không những tự thân đứng vững mà đồng thời đạt được những bước vọt theo định mức trong tăng trưởng.

Ủng hộ các “Ứng viên” giàu tiềm năng. Rất nhiều chương trình ở các nền kinh tế đang lên phân tán những tài nguyên khan hiếm giữa cơ số những doanh nghiệp nằm ở đấy “kim tự tháp”. Thực tế là vài doanh nghiệp trong số đó, ví dụ như Carvajal Foundation ở Cali, Colombia đã giúp thu nhập của nhiều bộ phận dân cư ở đây tăng mạnh. Thế nhưng tập trung các nguồn lực ở đó và bỏ rơi những doanh nghiệp có tiềm năng khác là một sai lầm cốt yếu.

Trong một kỉ nguyên khi tài chính vi mô cho các doanh nghiệp cỡ nhỏ đã trở thành xu thế chủ đạo, thì việc tái phân bổ nguồn lực để hỗ trợ các doanh nghiệp có tiềm năng cao có vẻ như quá xa xỉ và không công bằng. Đặc biệt nếu các nguồn lực bị giới hạn, những chương trình của chính phủ trước hết nên cố gắng tập trung vào các doanh nghiệp có tham vọng, muốn phát triển và đang nhắm tới những thị trường tiềm năng lớn. Đặc điểm kinh tế xã hội của các doanh nghiệp nhiều tiềm năng và các doanh nghiệp cỡ nhỏ có sự khác biệt đáng kể. Trong khi 500 doanh nghiệp tài chính vi mô tư nhân (1 chủ sở hữu) và một công ty đang phát triển ra thế giới gồm 500 nhân sự tạo ra số lượng việc làm bằng nhau, song nhiều chuyên gia lập luận rằng tài sản tạo ra, khả năng truyền cảm hứng cho các công ty khởi nghiệp khác, sự phong phú trong lực lượng lao động và giá trị danh tiếng ở loại hình công ty thứ hai đều lớn hơn doanh nghiệp tư nhân rất nhiều. Enterprise Ireland (EI) là một tổ chức đã nhìn nhận thấy điều đó. Tổ chức này là một cơ quan chịu trách nhiệm hỗ trợ các công ty mang đẳng cấp thế giới của Ireland phát triển. EI đã tạo ra một chương trình cụ thể cung cấp các hỗ trợ về tài chính cùng với sự cố vấn cho những công ty khởi nghiệp giàu tiềm năng – được định nghĩa bao gồm các công ty xuất khẩu và công ty dựa trên công nghệ tân tiến nào doanh số đạt ít nhất 1 triệu euro và tạo ra mười việc làm trong ba năm. Endeavor – công ty phi lợi nhuận toàn cầu tập trung vào phát triển doanh nghiệp ở mười nền kinh tế đang lên, đến nay đã “thu nhận” khoảng 440 “nhà doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn.” Dưới sự cố vấn của Endeavor, những người này đang biến thành công của họ trở thành các hình mẫu cho đồng bào của mình học tập.

Không phải tất cả doanh nghiệp giàu tiềm năng đều dựa trên nền tảng công nghệ. Thực tế, tôi cho rằng đa số các doanh nghiệp hiện này đều không dựa trên nền tảng công nghệ. SABIS là một ví dụ hoàn hảo. SABIS – một tổ chức quản lí giáo dục thành lập ở Li-băng nhiều năm trước dưới hình thức trường học, hiện đang là một trong những EMO lớn nhất thế giới, giảng dạy cho 65,000 học viên ở 15 quốc gia. Mục tiêu của SABIS là vào năm 2020 đạt mốc 5 triệu học viên.

5. Quảng bá cho những Thành công lớn. 
Trong những năm gần đây, thực tế cho thấy rõ một tấm gương thành công trên thị trường sẽ gây ra hiệu ứng kích thích đáng ngạc nhiên đối với hệ sinh thái khởi nghiệp – bằng cách thổi bùng lên trí tưởng tượng của công chúng và truyền cảm hứng cho những người theo sau. Tôi gọi hiệu ứng này là “quy luật thiểu số.” Việc Skype được hàng triệu người đón nhận và cuối cùng được bán cho eBay với giá 2.6 tỉ đôla đã tác động mạnh mẽ đến quốc gia Estonia nhỏ bé, khuyến khích những người được đào tạo bài bản về kĩ thuật tự mở công ty riêng của mình. Ở Trung Quốc, thị phần của Baidu và sự nổi tiếng toàn cầu của hãng đã gợi cảm hứng cho cả một thế hệ doanh nhân mới. Thành công đáng kinh ngạc của Celtel – nhà cung cấp dịch vụ di động hàng đầu khu vực Hạ Sahara Châu Phi, dẫn tới vụ thâu tóm trị giá hơn 3 tỉ đôla do Zain thực hiện đã khuấy đảo niềm tự hào trong khu vực và giúp nhiều chính phủ ở Châu Phi chiến đấu chống lại “nỗi khiếp đảm Phi Châu” đang thịnh hành trong giới nhà đầu tư. Tại Ireland, hai tập đoàn Elan Corporation và Iona Technologies, lần lượt niêm yết trên sàn chứng khoán Nasdaq vào năm 1984 và 1997, đã đóng vai trò như ánh sáng chỉ đường cho cả một thế hệ doanh nghiệp mới nảy nở.

Những thành công nhìn thấy được giúp giảm thiểu bớt quan niệm về rủi ro và rào cản lập nghiệp, đồng thời nêu bật lên các phần thưởng hữu hình. Thậm chí cả những thành công khiêm tốn thôi cũng có tác động nhất định. Ả rập Xê Út – quốc gia rất khan hiếm doanh nghiệp (ngoài các đế chế kinh doanh gia đình hùng mạnh ra), đang rất nỗ lực để phá tan hàng tá các rào cản về cấu trúc và văn hoá mà các nhà doanh nghiệp phải đối mặt.

Abdullah Al-Munif, một người Ả Rập trẻ tuổi đã dám từ bỏ công việc ăn lương của mình, chi tiêu dè xẻn lại, đấu tranh với thói quan liêu và lập nên Anoosh một công ty chuyên sản xuất kẹo chocolate cho những buổi hẹn hò. Rút cục, anh ta đã phát triển được công việc làm ăn của mình thành chuỗi mười cửa hàng toạ lạc trên các con phố lớn và bắt đầu để mắt đến thị trường nước ngoài. Bây giờ, khi xuất hiện tại các buổi hội thảo lập nghiệp với tư cách khách mời trả lời câu hỏi, Al-Munif bị vây kín bởi các nhà doanh nghiệp Ả Rập đầy tham vọng – những người được truyền cảm hứng từ sự dũng cảm của anh. Họ nhận ra rằng để thành công không nhất thiết phải có vốn lớn, công nghệ, hay các mối quan hệ.

PHỤ CHÚ 3:
Hạ Sahara Châu Phi: Xây dựng giá trị cổ đông-và Chính phủ ưu việt hơn
Câu chuyện của Mo Ibrahim minh hoạ cách những thành công sử dụng biện pháp mạnh có thể tạo ra tác động tiềm năng lớn thế nào lên một hệ sinh thái.
Ibrahim là người sáng lập ra nhà dịch vụ di động Celtel ở khu vực Hạ Sahara Châu Phi. Công ty này đã thành công trong việc xây dựng nên giá trị cực kì lớn lao cho cổ đông ngay trong bối cảnh xung đột bạo lực, chính phủ tham nhũng và trong một thị trường đầu tư viễn thông tồi tệ nhất trên thế giới suốt nhiều thập kỉ qua.
Cổ đông của Celtel đã kiếm được một khoản “khủng” khi ông chủ tập đoàn Zain thâu tóm công ty này vào năm 2005. Ibrahim sử dụng chính khoản tiền thu được từ thương vụ đó để tạo nên chỉ số Ibrahim nhằm theo dõi việc điều hành của các chính quyền ở Châu Phi và lập ra giải thưởng Ibrahim trị giá 5 triệu đôla để trao cho tinh thần lãnh đạo dân chủ.
Giải thưởng Ibrahim từng được trao hai lần, đã gửi đi một tín hiệu rõ ràng và tích cực tới các lãnh đạo chính phủ nhằm khuyến khích họ ban hành những cải cách dũng cảm.

0 Response to "LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẮT ĐẦU MỘT CUỘC CÁCH MẠNG KHỞI NGHIỆP - KỲ 1"

Đăng nhận xét

Xem nhiều nhất

Xem nhiều nhất trong tháng