LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẮT ĐẦU MỘT CUỘC CÁCH MẠNG KHỞI NGHIỆP - KỲ 2 (KẾT THÚC)



Truyền thông có thể đóng một vai trò quan trọng không chỉ ở việc tôn vinh thành công mà còn ở việc làm thay đổi thái độ. Ở Puerto Rico, El Nuevo Día - tờ nhật báo lớn nhất nước, hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương bằng cách cho đăng một trang hàng tuần về những câu chuyện khởi nghiệp thành công. Trên quốc đảo nhỏ bé, những câu chuyện như thế nhanh chóng trở thành một phần các cuộc hội thoại hàng ngày và nâng cao nhận thức của dân chúng về cơ hội mà việc khởi nghiệp mang lại, cũng như là những công cụ cần thiết để bắt đầu.


Khuếch trương thành công. Các chính phủ phải tán dương thật nhiệt liệt các doanh nghiệp đang phát đạt. Các sự kiện truyền thông, những giải thưởng cao quý được công bố, sự hiện diện trong các tài liệu của chính phủ, các bài diễn thuyết và phỏng vấn … tất cả đều có ảnh hưởng nhất định.

Việc này thực tế không dễ dàng thế, bởi nhiều nền văn hoá không hề khuyến khích sự phô trương thành công trước bàn dân vì như vậy là khoe khoang và dễ thu hút sự chú ý của cơ quan thu thuế hoặc đem lại vận rủi. Trong khi ở Hồng Kông, một nhà doanh nghiệp cỡ nhỏ cũng có thể lái những chiếc Mercedes để khẳng định vị thế của họ thì tại Trung Đông, sự phô trương thành công có thể làm người xung quanh nảy sinh đố kị hay tệ hơn nữa là bị “mắt quỷ” ám.

KenCall - trung tâm liên lạc quốc tế đầu tiên của Kenya, thành lập bởi Nicholas Nesbitt và hai cộng sự vào năm 2004 đã hiện diện trên trường quốc tế khi vượt qua rất nhiều rào cản về cấu trúc cũng như quan liêu, bao gồm cả việc thiếu kết nối mạng cáp quang tốc độ cao tới mạng liên lạc toàn cầu. Chính phủ Kenya không đợi đến khi KenCall trở nên hùng mạnh mới bắt đầu ca ngợi nó; thậm chí ngay cả khi hoạt động của KenCall vẫn chưa hoàn thiện, chính phủ Kenya vẫn mời các phái đoàn nước ngoài vào thăm quan, quảng bá công ty trên các ấn phẩm chính thức và các tờ báo phát hành đồng thời chủ trì một hội nghị đấu thầu quốc tế. Các quan chức chính phủ cũng sử dụng tấm gương của KenCall để thúc đẩy cải cách giúp đẩy nhanh việc xây dựng đường nối cáp quang dưới biển đầu tiên ở Đông Phi – một ví dụ cho việc một doanh nghiệp thành công tạo điều kiện cho các thay đổi cấu trúc, chứ không chỉ ở chiều hướng ngược lại.

6 Xử lí trực diện những Thay đổi về Văn hoá. Để thay đổi một nền văn hoá thâm căn cố đế là vô cùng khó khăn, nhưng cả Chile và Ireland đã cho thấy việc thay đổi tiêu chuẩn nhìn nhận của xã hội đối với khởi nghiệp trong vòng một thế hế là điều hoàn toàn khả thi. Cho tới tận những năm 1980, có việc làm ở trong chính phủ, các dịch vụ tài chính hay lĩnh vực nông nghiệp vẫn còn là khao khát chủ yếu của thanh niên Ireland. Việc chậm chi trả nợ là không thể chấp nhận được còn nếu phá sản bạn sẽ sống cả đời với sự dè bỉu. Các bậc phụ huynh ở những quốc gia này không khuyến khích con cái họ tự lập nghiệp, nên rất ít người nuôi mộng mở doanh nghiệp cho riêng mình. Nhưng tới những năm 1990, sau khi những người thành công đi tiên phong mở đường, hàng trăm công ty phần mềm mới đã được thành lập ở Ireland. Có công ty xuất khẩu sản phẩm, có công ty chào bán ra công chúng. Rất nhiều công ty đạt mức doanh thu bán hàng khả quan. Quan trọng là các doanh nhân biết được rằng họ có thể thất bại và họ có thể cùng tập hợp nhau lại để tạo nên khởi đầu mới. “Nếu bạn muốn được tôn trọng và được nhìn nhận một cách nghiêm túc, bạn cần phải là người sáng lập nên doanh nghiệp và đặt cược vào điều mà doanh nghiệp bạn đang cố gắng thực hiện”, đó là lời của Barry Murphy, người từng là giám đốc phần mềm quốc gia tại công ty hậu duệ của Enterprise Ireland vào những năm 1990.

Trong nghiên cứu của mình, giáo sư Rachel Schurman đến từ Đại học Minesota đã mô tả cách thức hình ảnh tiêu cực tương tự những kẻ bóc lột ích kỉ của doanh nghiệp Chile đã được thay đổi chỉ trong một thập niên. Đây là kết quả của những nỗ lực có tính toán từ trước của chính phủ Chile nhằm giải phóng nền kinh tế nước này. Cho đến những năm 1980, tầng lớp trung lưu được giáo dục tốt của Chile vẫn chưa có hứng khởi nghiệp lắm. Họ né tránh các cơ hội đầu tư, thích tiêu xài hơn là tiết kiệm và đầu tư. Nhưng đến những năm 1990, những nhà doanh nghiệp thuộc tầng lớp trung lưu ở Chile đã nói với Schurman rằng: “Ngày nay giới trẻ, bọn họ ai ai cũng muốn trở thành nhà doanh nghiệp. Khi một doanh nhân thành công được phỏng vấn trên báo chí, mọi người đều sẽ đọc bài báo đó. Tại sao anh ta thành công? Anh ta làm vậy như thế nào? Đấy là điều chưa từng xảy ra trước đây…”

Truyền thông có thể đóng một vai trò quan trọng không chỉ ở việc tôn vinh thành công mà còn ở việc làm thay đổi thái độ. Ở Puerto Rico, El Nuevo Día - tờ nhật báo lớn nhất nước, hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương bằng cách cho đăng một trang hàng tuần về những câu chuyện khởi nghiệp thành công. Trên quốc đảo nhỏ bé, những câu chuyện như thế nhanh chóng trở thành một phần các cuộc hội thoại hàng ngày và nâng cao nhận thức của dân chúng về cơ hội mà việc khởi nghiệp mang lại, cũng như là những công cụ cần thiết để bắt đầu.

7 Tập trung vào Gốc rễ. Rót vốn dồi dào, dễ dàng, kể cả là cho một doanh nghiệp giàu tiềm năng là một sai lầm: Nhiều hơn không nhất thiết đã là tốt hơn. Những doanh nghiệp mới phải được tiếp xúc thật sớm với sự khắc nghiệt của thị trường. Cũng giống như những người trồng nho phải giữ cho thân leo của cây không trữ nước để bộ rễ cây mở rộng, nhờ đó mà nho thu được sẽ có hương vị đậm đà hơn, các chính phủ cũng nên “tập trung vào bộ rễ” của các doanh nghiệp mới thành lập bằng cách chi tiền cẩn trọng để bảo đảm doanh nghiệp phát triển thật cứng cáp và giúp họ có khả năng xoay xở tốt. Biện pháp này cũng sẽ giúp loại bỏ những kẻ cơ hội.

Vào năm 2006, Bộ Doanh nghiệp và Hợp tác phát triển Malaysia đã trao phần thưởng 5,000 đôla mỗi người cho 90% trong tổng số 21,000 ứng viên để hỗ trợ việc kinh doanh. Đây là bằng chứng vững chắc cho quyết tâm của chính phủ dành cho doanh nghiệp. Chương trình là một phần của chương trình hành động quyết liệt, phần lớn nhắm vào người Malay bản xứ, những người tỏ ra ít thích thú khởi nghiệp hơn so với những người Hoa nhập cư luôn mang suy nghĩ kinh doanh trong đầu. Tuy nhiên, bản thân những doanh nhân Malay cho rằng kết quả đáng thất vọng đó một phần là do việc rót vốn quá lỏng lẻo và thậm chí những doanh nhân Malay nhận vốn còn bị đánh giá là dạng thiếu năng lực. Rộng ra hơn, các chương trình phát triển doanh nghiệp Malaysia, vốn được nhiều người bao gồm cả tôi đánh giá thuộc nhóm toàn diện nhất thế giới, lại bị chỉ trích thực chất là đang kìm hãm tinh thần khởi nghiệp trong cộng đồng người Malay bằng cách chủ tâm củng cố thêm cho suy nghĩ không dám liều lĩnh của họ. Tương tự, các báo cáo gần đây về chương trình Trao Quyền Kinh tế Đen Nam Phi (Black Economic Empowerment - BEE) đã tiến tới kết luận rằng BEE đã làm nản tinh thần khởi nghiệp trong số đông người Nam Phi da đen và chủ yếu mang lại lợi ích cho những người đứng đầu và có nhiều quan hệ.

Thực tế, sự khó khăn từ môi trường khan hiếm tài nguyên, thậm chí là thù địch, thường thúc đẩy tài xoay xở của doanh nghiệp. Những người New Zealand gọi sự khéo léo của dân tộc mình là “sợi dây thép số 8”: vào những năm tháng đất nước bị thuộc địa, nguồn tài nguyên dồi dào duy nhất chính là dây thép hàng rào cỡ 8 (đo theo chuẩn American Wire Gauge – tiết diện sợi dây), và người New Zealand phải học cách sửa chữa và chế tạo mọi thứ từ loại dây thép đó. Tinh thần khởi nghiệp Iceland được xây dựng trên nền tảng di sản “câu cá khi có cá để câu, chứ không phải khi thời tiết tốt.” Trong nhiều năm, các lồng ấp hay còn gọi là các trung tâm khởi nghiệp – những nơi cung cấp trợ giúp tài chính, cố vấn và thường là không gian để khởi nghiệp đã trở nên phổ biến với các chính phủ. Thế nhưng tôi đã từng thấy những bằng chứng tỉ mỉ, hiếm hoi về việc những chương trình đắt đỏ này đóng góp không tương xứng cho tinh thần khởi nghiệp. Một khu chính quyền tự trị ở Mỹ Latinh đã lập ra 30 lồng ấp nhỏ như vậy, nhưng sau nhiều năm chỉ có một trong tổng số hơn 500 doanh nghiệp được lồng ấp hỗ trỡ đạt được 1 triệu đôla doanh thu hàng năm. Mặc dù Israel vẫn lừng danh bởi những chương trình lồng ấp đã giúp lập nên 1,300 doanh nghiệp mới, thì tương đối ít trong số này trở thành các doanh nghiệp thành công lừng lẫy. Trên nền tảng cuộc thảo luận của tôi với các quan chức Israel, tôi ước lượng được rằng trong số hàng trăm doanh nghiệp Israel được thâu tóm bằng rất nhiều tiền hay được niêm yết ra công chúng, có tối đa 5% doanh nghiệp “nở” ra từ các lồng ấp. Và chắc chắn những lồng ấp này không phải con đường đi nhanh chóng. Khi được tính toán và quản lí tốt, vẫn phải mất 20 năm hoặc hơn để những lồng ấp này sản sinh ra các tác động có thể đo lường đối với giới doanh nghiệp. Ngược lại, nếu không được tính toán và quản lí tốt, những lồng ấp này có thể biến thành những vật trang trí đắt tiền.



Phụ chú 1:
Medellín: Từ một thành phố Tràn ngập tội ác đến Vùng đất gây giống Khởi nghiệp
Có lẽ chẳng sẽ chẳng có thành phố nào từng nỗ lực hơn để tự thay đổi mình như Medellín, Colombia, nơi trong hai thập kỉ bị tàn phá bởi ma tuý và giết chóc
Khi Sergio Fajardo trở thành thị trưởng của Medellín vào năm 2003, ông ấy đã đem tới sự thay đổi cách mạng về văn hoá, tạo ra một môi trường khởi nghiệp kinh doanh hợp pháp. Với sự liên kết cùng các trường đại học, các quỹ vốn sở hữu tư nhân, những công ty lớn như công ty năng lượng địa phương (EPM), các doanh nghiệp tư nhân, tổ chức phi lợi nhuận Proantioquia Foundation, tổ chức hợp tác cộng đồng Comfama và cộng đồng người dân Medellín, nhiệm kì quản lí của Fajardo đã đúc nên được một chiến lược thịnh vượng chung. Fajardo đã tập trung xây dựng những thư viện công cộng có thiết kế đẹp, được trang bị những công nghệ tiên tiến và những
trung tâm cộng đồng ở ngay khu vực các băng nhóm hoành hành và lập nên những chương trình tài chính vi mô để giúp đỡ người nghèo. Những chiến lược khác của Fajardo bao gồm thiết lập các trung tâm sáng tạo và chi một khoản lên tới 40% ngân sách mà ông có cho giáo dục và 17 triệu đôla một năm để khuyến khích tinh thần khời nghiệp. Có vẻ như họ đã thành công khi dọn sạch ma tuý, tạo ra niềm lạc quan và theo số liệu thì tình trạng bạo lực ở đây đã được giảm xuống mức khiến Medellín còn an toàn hơn cả Washington DC và nhiều thành phố khác ở Hoa Kì.



8 Đừng cố sắp đặt chỉn chu các Bầy đàn; Hãy giúp họ tự thân Phát triển. Không một quan chức chính phủ nào từng bị sa thải do đã khuyến khích bầy đàn – là tập hợp của các công ty có mối liên hệ với nhau, những nhà cung cấp chuyên biệt, những nhà cung cấp dịch vụ, cơ quan đào tạo, và các tổ chức hỗ trợ được hình thành xung quanh một công nghệ hoặc sản phẩm đầu cuối thuộc một vùng hay khu vực. Được phổ biến bởi Michael Porter của Trường Kinh Doanh Harvard, chiến lược bầy đàn đã được nhiều chính phủ khuyến khích trên khắp thế giới. Việc này đã quảng bá vai trò quan trọng của bầy đàn trong công tác thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và tính cạnh tranh kinh tế. Mặc dù những doanh nghiệp bầy đàn có tồn tại theo lẽ tự nhiên và có thể là những nhân tố quan trọng của một hệ sinh thái, song chuyện các chính phủ có khả năng đóng vai trò chính trong việc gây giống nên những doanh nghiệp này lại chỉ xuất hiện trong một bằng chứng mang tính giai thoại đầy hồ nghi. Trong một bài phê bình hiếm hoi viết về sự “linh ứng” của bày đàn, tạp chí Economist đưa tin:

“Thông thường các chính phủ sẽ chọn một khu vực hứa hẹn ở đất nước mình, lí tưởng là một vùng nằm gần trường đại học lớn, và bơm ra thật nhiều tiền nhằm kích thích tinh thần khởi nghiệp dưới bàn tay dẫn dắt của những quan chức tốt bụng… Đó là một thất bại cùng cực… Các chuyên gia tại Insead đã nhìn vào những cố gắng tạo dựng các bày đàn doanh nghiệp công nghệ sinh học để ngang hàng với Hoa Kì của chính phủ Đức và kết luật rằng ‘Nước Đức về bản chất đã phí phạm 20 tỉ đôla – và giờ Singapore đang trên bước đường thực hiện điều tương tự.’ Một đánh giá thực hiện bởi World Bank về những nỗ lực trị giá nhiều tỉ đôla của Singapore nhằm tạo ra ‘Biopilis’ đã tính toán ra rằng cơ hội thành công của chính phủ nước này là 50-50. Có người còn cho rằng tỉ lệ này còn thấp hơn thế.”

Vấn đề là qua nhiều năm mọi người đã nhầm những mô tả của Porter về lợi ích của bầy đàn. Họ hiểu sai những lợi ích đó thành lời chỉ định rằng hãy bắt tay xây dựng bầy đàn từ đầu. Thực tế, trong một bài báo năm 1998 của tạp chí Economist, bản thân Porter đã lường trước sự biến hoá của bầy đàn sẽ làm nhiều chính phủ hiểu nhầm:

“Các chính phủ nên củng cố và xây dựng dựa trên những bầy đàn đang tồn tại và phát triển hơn là cố gắng tạo ra những bầy đàn hoàn toàn mới… Thực tế, hầu hết các bầy đàn hình thành độc lập so với động thái của chính phủ, và đôi khi là bất chấp cả những động thái đó. Bầy đàn hình thành nơi nền tảng các lợi thế địa phương tồn tại. Để biện hộ cho những nỗ lực phát triển bầy đàn, thì phải có những mầm mống bầy đàn đã từng vượt qua thử thách của thị trường…”

Tốt hơn hết chính phủ nên duy trì trung lập cho khối ngành và giải phóng năng lượng khởi nghiệp của người dân hơn là kìm hãm. Họ nên quan sát hướng đi của các nhà doanh nghiệp và “lót đường” cho họ bằng cách nhẹ nhàng khuyến khích các hoạt động kinh tế hỗ trợ để họ phát triển xoay quanh những doanh nghiệp đã thành công trước đây hơn là tính toán xây dựng lề đường mới, đổ bê tông và giữ các doanh nhân tránh xa khỏi “thảm cỏ xanh mát”. Tuy nhiên, cách nhìn nhận thiếu hấp dẫn nhưng thực tế này thường thất bại khi lí thuyết bầy đàn được thể hiện vào những chính sách của chính phủ. Những chính sách này giống với kế hoạch công nghiệp tập trung từng bị thất thế đến đáng ngờ.

9 Cải cách các khuôn khổ Pháp lí, Quan liêu và Điều tiết. Những khuôn khổ pháp lí và điều tiết đúng đắn là cực kì quan trọng đối với khối doanh nghiệp đang phát triển mạnh mẽ. Tuy vậy, tôi để dành những bàn luận về việc đó ở cuối bởi đây thường là mối quan tâm đầu tiên và duy nhất của nhiều chính phủ. Tôi rất cố gắng để cho các bạn thấy rằng chính phủ có một vai trò toàn diện hơn thế. Hơn nữa, cải cách pháp lí và điều tiết thường mất rất nhiều năm để hoàn thành và tinh thần khởi nghiệp thường nảy sinh vào lúc thiếu vắng cải cách. Thực tế, rất nhiều nhà doanh nhân đã thành công bất chấp sự quan liêu và những quy định cấm đoán, và rồi dùng sự giàu có và địa vị của mình để thúc đẩy cải cách. Cuối cùng, cải cách sẽ không thật sự hiệu quả nếu thiếu những lối tiếp cận “mềm mỏng” hơn từ phía chính phủ trong việc xây dựng các hệ sinh thái, ví dụ như phá bỏ các rào cản văn hoá, đào tạo những doanh nhân và phát tán các câu chuyện về thành công.

Những nghiên cứu sâu rộng đã chỉ ra một số cải cách có tác động tích cực tới việc thành lập doanh nghiệp: hợp pháp hoá việc phá sản, bảo vệ cổ đông khỏi chủ nợ và cho phép các doanh nhân nhanh chóng bắt đầu lại từ đầu. Một hình thức cải cách hữu ích nữa là chuyển đổi bảo hiểm thất nghiệp của người lao động từ việc gây khó khăn khi chấm dứt hợp đồng sang hỗ trợ họ lúc thất nghiệp. Xây dựng và giải phóng thị trường vốn, ví dụ như Thị trường đầu tư Thay thế của Anh Quốc, cũng có thể tạo nên hiệu ứng kích thích.

Chế độ thuế được đơn giản hoá cùng với hệ thống kiểm toán và thu thuế hiệu quả cũng tạo thêm điều kiện cho doanh nghiệp. Ví dụ ở Puerto Rico, một chế độ thuế kém hiệu quả thực sự đã khiến nhiều doanh nhân chỉ dám làm nhỏ và ẩn mình khỏi sự soi mói của chính quyền nhờ đó họ vẫn có thể để rất nhiều những khoản chi tiêu cá nhân dưới dạng các khoản đầu tư kinh doanh; về phương diện này, Puerto Rico hoàn toàn không phải là duy nhất.

Nếu mọi sự bất biến, thì việc gỡ bỏ hàng rào quản lí và pháp lí cho doanh nghiệp thành lập là một hướng đi tốt hơn là tạo động lực cho họ vượt qua những rào cản đó. Vào năm 2008, chính phủ Pháp, từ lâu vẫn đang tuyệt vọng bởi khu vực kinh doanh của nước này thiếu thốn tinh thần khởi nghiệp, đã thi hành chương trình Auto-entrepreneur. Chương trình này giúp đơn giản hoá thủ tục pháp lí để thành lập một doanh nghiệp nhỏ. Điều đó cho phép các doanh nhân tránh các khoản chi trả trước thuế phiền hà và loại bỏ những trở ngại khác. Dưới sự hỗ trợ của chương trình này, hơn 300,000 doanh nghiệp mới đã được thành lập ở Pháp – tức là hơn 10,000 một tháng. Phải thừa nhận rằng đa phần trong số này cơ bản là doanh nghiệp tư nhân (một chủ sở hữu). Việc bao nhiêu trong số này sẽ thực sự trở thành những công ty phát triển vẫn còn phải xem xét. Một nhà quan sát đã nói “Đảo ngược được thái độ tiêu cực đã tồn tại từ lâu trong lòng nước Pháp đối với việc thành lập doanh nghiệp nhỏ có lẽ sẽ là tác động quan trọng nhất.” Thử nghiệm quả cảm của Pháp sẽ trở thành một thành công tuyệt đối thậm chí là nếu chỉ một trên một ngàn doanh nhân tham gia chương trình thực sự phát triển được công ty.

Thử Nghiệm Không Ngừng Nhưng Phải Toàn Diện
Tạo nên cả một hệ sinh thái hoàn chỉnh là một thách thức rất dễ khiến người ta nản chí, nhưng bạn phải làm và bọc lót tốt mọi nền tảng của mình. Ví dụ, Đài Loan đã củng cố hàng loạt các yếu tố trong hệ sinh thái của họ gần như đồng thời. Họ khuyến khích những nghiên cứu về thiết kế mạch tích hợp và sản xuất, thành lập nên khu Khoa học Hsinchu gần Đài Bắc, triển khai các chương trình đào tạo về mạch tích hợp, hợp tác với các quản lí công ty công nghệ Đài Loan đóng tại Hoa Kì và thông qua các luật khuyến khích sự phát triển của ngành cấp vốn mạo hiểm nội địa. Yozma của Israel thành công bởi nó tồn tại trong một hệ sinh thái đang phát triển bao gồm khoảng hai tá doanh nghiệp công nghệ Israel đã niêm yết , hai quỹ cấp vốn mạo hiểm đang vận hành, các mạnh thường quân và nhà đầu tư tổ chức, chủ các ngân hàng đầu tư Hoa Kì hoạt động tại địa phương, các dịch vụ hỗ trợ chuyên nghiệp phục vụ giới doanh nhân và những dòng hợp đồng làm ăn béo bở (rich deal flow).

Thực tế, lờ đi bản chất có mối liên hệ của các yếu tố hệ sinh thái có thể dẫn đến những hậu quả tai quái. Ví dụ, khuyến khích để người trẻ có khao khát khởi nghiệp có thể gây ra hiệu ứng boomerang và khiến chất xám chảy máu nếu khao khát ấy bị vùi dập bởi một môi trường quá khắc nghiệt. Giáo sư Josh Lerner của Trường Kinh Doanh Harvard thông báo rằng việc tạo nên quỹ vốn mạo hiểm mà thiếu mất dòng thoả thuận làm ăn và một cơ cấu khích lệ hợp lí, giống như điều Chương trình Quỹ Lao Động Canada đã làm, thực sự có thể làm chậm lại quá trình hình thành của một khu vực chủ sở hữu tư nhân. Tiền chính phủ đổ ra dễ dàng và bừa bãi sẽ làm thị trường ngập chìm trong những thoả thuận làm ăn kém chất lượng bị thổi phồng giá trị. Việc này khiến những nhà đầu tư góp vốn tư nhân kiếm tiền khó khăn hơn.

Dĩ nhiên, để thay đổi mọi thứ ngay lập tức là điều không thực tế và không thực dụng. Có một bức tranh rõ ràng về dáng hình của hệ sinh thái sẽ giúp các chính phủ thực hiện những bước tiến đầu tiên mà vẫn nắm bắt được những điều sắp xảy ra.




Thực hiện những thay đổi nền tảng như vậy khi còn đó rất nhiều điều hồ nghi đòi hỏi sự thử nghiệm và học hỏi bất tận. Và một điều cũng rất quan trọng là các chính phủ trên thế giới nên học tập từ nhau. Đây là điều thường không xảy ra nhiều lắm. Và bất kì ai đang cố gắng xây dựng một hệ sinh thái cũng nên nhớ rằng công việc đó không bao giờ thực sự kết thúc cả. Có hai điều gần đây làm tôi suy nghĩ nhiều. Điều đầu tiên là sự ra mắt của MassChallenge – một cuộc thi ý tưởng kinh doanh toàn cầu được tổ chức bởi Commonwealth of Massachusetts và thành phố Boston. Điều thứ hai là lời bình luận từ một người bạn cũ, một nhà kinh tế học người Israel nổi tiếng và là một trong số những người tiên phong bảo vệ cho các công ty khởi nghiệp công nghệ: “Chúng tôi chưa làm đủ để thúc đẩy phát triển doanh nghiệp ở Israel và nếu chúng tôi không bắt đầu sớm, chúng tôi sẽ đánh mất lợi thế của mình.”

Hiện nay, Massachusetts và Israel là hai trong số những khu vực khởi nghiệp nhiều nhất thế giới. Nếu những doanh nhân chưa thoả mãn và vẫn tiến lên dựa trên những vinh quang đã có của họ, thì đó là dấu hiệu chứng tỏ các giới hạn vẫn đang được chinh phục – tinh thần khởi nghiệp không bao giờ là thừa, không có câu trả lời đúng hay sai, và cũng chẳng có lựa chọn nào cho các nhà làm chính sách và lãnh đạo ngoài việc tiếp tục thử nghiệm và học cách cải thiện hệ sinh thái của quốc gia họ.

Mặc dù đây là vấn đề sẽ kéo dài bất tận, song những động thái chủ chốt mà tôi đã liệt kê sẽ giúp các chính phủ lèo lái khối công ty khởi nghiệp đi đúng hướng. Tiếp cận khu vực tư nhân, thay đổi những quy chuẩn văn hoá, gỡ bỏ các hàng rào điều tiết, khuyến khích và tôn vinh các thành công, thông qua những điều luật có lợi, sáng suốt trong vấn đề đặt trọng tâm vào các bầy đàn và lồng ấp, áp dụng các chương trình tài chính cho những thị trường khắc nghiệt, và trên hết là tiếp cận hệ sinh thái khởi nghiệp như một thể thống nhất sẽ cho phép các chính phủ tạo ra tăng trưởng kinh tế bằng cách thúc đẩy sự thành lập của các công ty khởi nghiệp tự duy trì. Tổng thống Ireland, Mary McAleese đã nhận thấy một hiệu ứng phi thường có thể tác động tới xã hội. Vào năm 2003, bà nói: “Ngày nay một thế hệ được giáo dục, tự tin vào bản thân và thành đạt sẽ thấy sự giỏi giang của mình bộc lộ sức mạnh trong công việc ở trên chính mảnh đất quê hương khi nền văn hoá khởi nghiệp biến đổi vận mệnh của Ireland, tạo ra tương lai mới cho con em chúng ta và để lại một câu chuyện kinh tế thành công mang tầm vóc rất lớn.”

Phụ chú 2: 
Quốc gia của bạn có một Hệ sinh thái khởi nghiệp vững chắc hay không?
Làm sao để bạn biết được rằng đất nước bạn có sở hữu những yếu tố cốt lõi của một hệ sinh thái khởi nghiệp trong tay? Để giúp các chính phủ trả lời câu hỏi đó, trường Babson College đã triển khai một dự án hành động nghiên cứu toàn cầu có tên gọi Babson Entrepreneurship Ecosystem Project(BEEP). Dưới đây là một bản tóm tắt về cơ cấu tổ chức mà BEEP dùng để tiếp cận những yếu tố quyết định tồn tại trong một môi trường nhất định. Qua đó các chính phủ sẽ biết được đâu là nơi họ nên tập trung nỗ lực vào. Mỗi mục đại diện cho một bộ phận chính của một hệ sinh thái khoẻ mạnh. Những câu hỏi mẫu được liệt kê dưới đây dẽ giúp bạn đánh giá được vị trí hiện tại của mình.
NHỮNG NHÀ LÃNH ĐẠO CÔNG CHÚNG CÓ:
Thể hiện vai trò là những người bênh vực mạnh mẽ, công khai cho các nhà doanh nghiệp và tinh thần khởi nghiệp hay không?

Cởi mở với doanh nghiệp và những người thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp hay không?

CÁC CHÍNH PHỦ CÓ:
Tạo ra những cơ quan hoạt động hiệu quả có liên đới trực tiếp với công tác khởi nghiệp (các cơ quan nghiên cứu, mối liên lạc với nước ngoài, diễn đàn cho công chúng-cá nhân đối thoại) hay không?

Gỡ bỏ rào cản cơ cấu đối với tinh thần khởi nghiệp, ví dụ như các luật phá sản phiền hà và việc thi hành hợp đồng còn hạn chế?

TOÀN BỘ NỀN VĂN HOÁ NÓI CHUNG CÓ:
Dung thứ cho những sai lầm thật sự, cho thất bại xứng đáng, cho sự liều lĩnh và cho những tư duy đối lập hay không?

Coi trọng tinh thần khởi nghiệp?

CÓ NHỮNG CÂU CHUYỆN THÀNH CÔNG HỮU HÌNH MÀ:
Truyền cảm hứng cho giới trẻ và những người sẽ là doanh nhân khởi nghiệp?

Cho những người dân bình thường thấy rằng ngay cả họ cũng có thể trở thành doanh nhân khởi nghiệp?

CÓ ĐỦ NHỮNG NGƯỜI TRI THỨC:
Có kinh nghiệm trong việc tạo lập các tổ chức, thuê mướn nhân sự và xây dựng những cấu trúc, hệ thống và kiểm soát chúng?

Có kinh nghiệm từng là thành viên của các hội đồng quản trị chuyên nghiệp hay nhà cố vấn không?

CÓ NGUỒN VỐN ĐỂ:
Cung cấp vốn ở giai đoạn tiền bán hàng?

Thêm vào các giá trị phi tiền bạc ví dụ như công tác cố vấn hay các mối liên hệ?

CÓ NHỮNG HIỆP HỘI PHI LỢI NHUẬN VÀ TỔ CHỨC CÔNG NGHIỆP ĐỂ:
Giúp đỡ các nhà đầu tư và doanh nhân khởi nghiệp liên hệ và học hỏi lẫn nhau?

Quảng bá và bắt tay hợp tác với các công ty khởi nghiệp (ví dụ như hiệp hội phần mềm và công nghệ sinh học)?

CÓ NHỮNG CƠ QUAN GIÁO DỤC:
Giảng dạy kiến thức tài chính và tinh thần khởi nghiệp cho học sinh trung học và đại học?

Cấp phép nghỉ cho các giảng viên chuyên ngành để họ tham gia khởi nghiệp?

CƠ SỞ HẠ TẦNG CÔNG CỘNG CUNG CẤP ĐỦ:
Phương tiện vận chuyển (đường xá, sân bay, đường sắt, container chuyển hàng)?

Phương tiện liên lạc (kĩ thuật số, băng thông rộng, di động)?

NHỮNG VỊ TRÍ ĐỊA LÍ NƠI CÓ:
Các doanh nghiệp nhiều tiềm năng và tăng trưởng cao tập trung với mật độ dày đặc hay không?

Gần các trường đại học, cơ quan tiêu chuẩn, viện chính sách, trung tâm đào tạo hướng nghiệp, các nhà cung cấp, công ty cố vấn và các hiệp hội chuyên nghiệp hay không?

CÓ NHỮNG NHÓM CHÍNH THỨC VÀ KHÔNG CHÍNH THỨC NÀO ĐỂ KẾT NỐI:
Doanh nhân khởi nghiệp trong nước hay trong vùng với cộng đồng người xa xứ - đặc biệt là những người thành đạt hay không?

Doanh nghiệp mới và văn phòng địa phương của những tập đoàn đa quốc gia hay không?

CÓ NHỮNG NGHỀ ĐỂ LẬP NGHỆP NHƯ:
Luật sư, kế toán, cố vấn thị trường và cố vấn chuyên môn, những người làm việc trên cơ chế thông thường hay cơ chế chi trả bằng cổ phiếu?

CÓ NHỮNG KHÁCH HÀNG ĐỊA PHƯƠNG TIỀM NĂNG:
Sẵn sàng đưa ra lời khuyên, đặc biệt là những lời khuyên cho các sản phẩm và dịch vụ mới hay không?

Sẵn sàng linh hoạt với những điều khoản chi trả để đáp ứng nhu cầu dòng tiền cho những nhà cung cấp non trẻ đang trên đà phát triển nhanh?







0 Response to "LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẮT ĐẦU MỘT CUỘC CÁCH MẠNG KHỞI NGHIỆP - KỲ 2 (KẾT THÚC)"

Đăng nhận xét

Xem nhiều nhất

Xem nhiều nhất trong tháng