CASE STUDY - TƯ DUY VÀ CẢI TIẾN THIẾT KẾ CỦA APPLE - KỲ 2


Con người không dùng máy tính với mục đích thưởng ngoạn hệ điều hành. ... Họ sử dụng máy tính bởi họ muốn tạo ra thứ gì đó. ... Máy tính chỉ là một công cụ ... nó phục vụ cái con người muốn làm ... bạn cần phải biết những người này là những ai và cái gì họ đang thực sự cố gắng đạt tới.

Chiến lược công nghệ cơ sở

Apple nổi tiếng kín tiếng cả về chiến lược và cách thức vận hành – hướng đi này tạo cho hãng những điều thần kì trong marketing và được những hãng đi sau nể phục. Nhưng hướng cải tiến sản phẩm lại phức tạp, nó không chỉ là mang đến những sản phẩm hấp dẫn: danh mục sản phẩm công ty được sắp xếp hợp lý và tái sử dụng rộng trong khuôn khổ họ sản phẩm đã cho thấy Apple có một chiến lược công nghệ cơ sở rõ ràng. Ví dụ hệ điều hành OSX được dùng cho tất cả các máy tính của hãng và cho cả iPhone. Và iPhone và iPod Touch như hầu hết các dòng iPod rõ ràng xuất phát từ cùng một công nghệ cơ sở, và giờ đến iPad.

Nói rộng ra, các công ty theo các chiến lược công nghệ cơ sở có thể hình dung dòng (hay thế hệ) các sản phẩm ngay những giai đoạn đầu định hình và lên kế hoạch sản phẩm. Ở thời điểm này, các công ty nghĩ trước không chỉ về cái sẽ cần cho lần ra mắt sản phẩm đầu tiên, mà còn những yêu cầu kéo theo sau đó – và khi nào chúng xảy đến. Cứ mỗi nét đặc trưng nhất định lại đi kèm tất cả những suy nghĩ như vậy, công ty sẽ coi thiết kế sản phẩm ban đầu như một công nghệ cơ sở, lấy cấu trúc đó làm nền tảng phát triển và định hình sản xuất.

Chiến lược công nghệ cơ sở mang lại lợi thế và lợi ích to lớn cho công ty, các nhà cung ứng và khách hàng của công ty đó. Với nhiều công ty, như Apple đặt ưu tiên hàng đầu cho thiết kế, nguồn lực và thời gian đầu tư vào sản phẩm đầu tiên vì coi đây là đòn bẩy cho các sản phẩm tiếp theo phát triển từ cái ban đầu này; những sản phẩm kế tiếp này phát triển và được giá nhanh chóng do chúng được xây dựng dựa trên và tận dụng được những chi tiết thiết kế có sẵn trong công nghệ cơ sở. Và điều này cũng rất hiệu quả. Được dùng chung và tái sử dụng các bộ phận lắp rắp, các cụm lắp ráp và các chi tiết nhiều hơn, nên sản phẩm tạo ra có độ tin cậy cao hơn và chi phí thấp hơn, từ đó cả công ty và nhà cung ứng đều được hưởng lợi. Nhân viên trong công ty cũng được lợi nhờ có được hiểu biết khi thiết kế, sản xuất và hỗ trợ sản phẩm công nghệ cơ sở (đầu tiên). Công nghệ này lần lượt được chuyển giao hiệu quả cho các sản phẩm kế cận.

Và cuối cùng, khách hàng cũng được hưởng lợi từ việc công ty sử dụng hiệu quả chiến lược công nghệ cơ sở. Thiết kế ổn định và đáng tin cậy hơn đồng nghĩa với sản phẩm sẽ ít phải tu sửa, bảo trì và các dịch vụ đi kèm nói chúng và đặc biệt cho những người dùng đầu. Màn hình tương tác người dùng và các chi tiết thiết kế thống nhất đồng nghĩa với việc khách hàng sẽ ít gặp khó khăn khi sử dụng; họ chỉ cần biết một mà dùng đươc cả họ sản phẩm của hãng.

Liên tục thu hút khách hàng

Ngay từ đầu, Apple đã quan tâm lồng ghép trải nghiệm người dùng vào trong mỗi thiết kế và trong các giai đoạn phát triển. Đây cũng là cách Larry Tessler – người đã gia nhập Apple vào năm 1980 và phát minh ra hộp thoại cắt – dán và có thể chỉnh sửa – đã thiết kế lên trình duyệt Smalltalk và đơn giản hóa việc dùng chuột máy tính. Dưới đây là mô tả lại những nỗ lực của ông:

Cái tôi nhận ra là cách tốt nhất để thiết kế phần mềm ở Apple là gắn liền với khách hàng, và đến giờ nó được biết đến với cái tên thiết kế cộng tác. Với các sinh viên hội họa ... tôi xem cách họ sử dụng và đã hiểu khi họ bắt đầu lúng túng. ... Đó là kinh nghiệm đầu tiên với thứ mà ngày nay chúng ta vẫn gọi là những bài kiểm tra độ khả dụng, mọi người biết được đâu là vấn đề và cách khắc phục, và tôi nhận ra tôi có thể làm thứ gì đó thậm chí đơn giản hơn.

Tessler có cho biết thêm:

            Trong thiết kế giao diện tương tác với người dùng, đã có nhiều lần thử và bị lỗi. Chúng tôi đã thử nhiều thứ khác nhau và rồi tìm ra cái nào được, cái nào không. Nhiều trong số chúng theo kinh nghiệm mà có. Tôi tiếp tục mang đến những thứ mới và hỏi “Cái này thì thế nào nhỉ?” và chúng tôi sẽ tiến hành cho mọi người dùng thử. Ví dụ, nếu có một thanh cuộn... mũi tên sẽ đi theo hướng nào? Khi đã cuộn đến cuối trang văn bản, văn bản sẽ tự động lên đầu trang, vì thế mà có vài ý kiến cho rằng mũi tên sẽ đi xuống và một số cho rằng đi lên. Câu hỏi hay thật sự phải là “Mọi người mong chờ gì? Khi nhìn thấy chuột, người dùng nghĩ nó sẽ di chuyển lên hay xuống?” Điều mà tôi thấy còn quan trọng hơn nhiều việc mũi tên đi lên hay xuống là mũi tên đang ở đâu: nếu mũi tên đang ở đầu trang văn bản, người dùng muốn thấy có gì ở trên nữa, và khi chuột ở dưới cùng trang văn bản, họ lại muốn thấy có gì ở dưới nữa.

Một ví dụ khác khi Bill Atkinson hồi tưởng lại công việc thiết kế ứng dụng đồ họa ban đầu cho Apple (giữa những năm 1980) – MacPaint:

Tôi cho rằng càng thử một phần mềm trên nhiều người dùng, phần mềm đó càng vận hành trơn tru. Quá trình thiết kế phần mềm thực sự là một quá trình bạn phải khởi đầu với hình dung chưa rõ ràng về điều bạn đang cố làm, và rằng... rất chậm...để những sản phẩm được công nhận tốt hơn. Khi làm việc với phần mềm nhiều hơn, nó đơn giản chỉ là một thực thể, nhưng khi thử dùng nó bạn nhận ra “Bạn biết đấy, tôi vừa giống như đánh mất một mục tiêu ngay ở đây.” Ví dụ, đầu tiên bạn mở tung nó ra ... sau đó bỏ đi mọi loại mã và xây dựng ... từ một tổ hợp và bạn sẽ có một mô hình rõ ràng và không hỗn tạp. Sau đó, bạn bắt đầu tách nhỏ mô hình và bổ sung thêm những thiết kế người dùng muốn, và nó trở nên có chút bất cân xứng và khó khăn và trong giây lát bạn sẽ nhận ra, “Bạn biết đấy, cái tôi đang cố tạo nên ở đây là không đơn giản chỉ giống như chiếc bàn sửa giầy.” Chỉ như vậy khi gác mô hình sang một bên và chủ tâm làm chiếc bàn sửa giầy đó, và chuyên tâm gia công đến khi thành phẩm. Bạn lặp đi lặp lại như vậy, thử nghiệm sau đó sẵn sàng gạt cái cũ sang một bên và gây dựng lại từ đầu.


Cordell Ratzlaff đã ủng hộ quan điểm rằng thiết kế nên được định hướng trước hết nhờ nhu cầu và mong muốn người dùng khi đề cập đến sự quá trình phát triển của hệ điều hành OS X (khoảng năm 2000):

Không gì là tôi không muốn thay đổi; Tôi cho rằng giao diện phải thực sự phù hợp cho người dùng. Con người không dùng máy tính với mục đích thưởng ngoạn hệ điều hành. ... Họ sử dụng máy tính bởi họ muốn tạo ra thứ gì đó. ... Máy tính chỉ là một công cụ ... nó phục vụ cái con người muốn làm ... bạn cần phải biết những người này là những ai và cái gì họ đang thực sự cố gắng đạt tới.

Những sản phẩm đẹp

“Đồ vật đẹp” không khác xa trí tưởng tượng nhưng vì thế nó cũng có thể bị biến đổi. Hãy xét với thiết kế chiếc iPod ban đầu rất hợp với màu nguyên thủy của máy (màu trắng), cùng với lớp phủ polime giúp hoàn thiện thiết kế ngoài máy. Quyết định màu trắng “sáng” sẽ là màu chủ đạo, nhà nghiên cứu cũng là tác giả Steve Levy mô tả cách Ive mô phỏng quá trình dịch này:
           
Ive phác thảo cách chúng đặt lớp nhựa polycacbon lên lớp sơn phủ thép cuối tạo nên “một vầng sáng khá mạnh bao quanh sản phẩm. ... Vỏ máy là nhựa “poli cacbonat nguyên khối” – hỗn hợp 2 tầng...

Theo như Levy đã kể lại, Ive đã có phần phóng đại tầm quan trọng và vẻ đẹp của lớp vỏ ngoài “màu tuyết” nguyên thủy. Nhưng chỉ một vài năm sau, một chất liệu mới (nhôm) cùng đa dạng các màu đã thay thế nhựa poly cacbon và “lớp sơn trắng tuyết” khi chiếc iPod Mini được giới thiệu thành công. Chiếc iPod ban đầu không hề ngừng sản xuất mà vẫn được bán cùng với sản phẩm mới và doanh số vẫn tiếp tục tăng. Jobs có chia sẻ: “Tôi nhớ đã cùng làm một mô hình với Jon,” “Chúng tôi đã có chút không vững vàng. Khi chúng tôi đưa ra những cách bài trí thì họ nói với chúng tôi rằng mô hình này là bất khả thi. Việc này vốn không đơn giản, nhưng chúng tôi sẽ gắng hết mình hoàn thành mô hình này.” 

Khả năng thay đổi của Apple từ việc ủng hộ mạnh mẽ cho màu trắng nguyên thủy chuyển sang định hướng vỏ ngoài nhiều màu và dùng các chất liệu mới đã khái quát tầm quan trọng của thiết kế như là động lực để tiếp tục đổi mới sản phẩm, chứ không đơn thuần là một hướng đi tĩnh để rồi chỉ đi đến một kết luận đơn nhất. Điều này cũng khơi gợi đam mê và quan tâm sâu sắc tới các nguyên vật liệu mới và các quy trình sản xuất, hai yếu tố này góp phần tạo ra những cơ hội mới trong cải tiến sản phẩm. Đam mê này thúc đẩy những nghịch lý. Như Jobs có nói, Apple phát triển bùng nổ không nhờ “an toàn mới nhảy vào. Mà đó là thứ mạo hiểm nhất chúng tôi làm. Chúng tôi buộc phải táo bạo... .”

Giám đốc điều hành lại là nhà cách tân chủ chốt

Khi Steve Jobs còn đôi mươi, ông có lần đã diễn giải tầm nhìn thiết kế cho tôi nghe, có sử dụng một biểu tượng – một vật thể mà ông lấy đó đặt tên cho công ty máy tính của mình. Ông nói “Đó là một loại trái cây – táo”. “Sự giản đơn chính là nét tinh tế nhất ... khi bạn nhìn nhận một vấn đề và tất cả những giải pháp giản đơn dường như thực sự đơn giản hóa mọi thứ, bạn không hiểu hết cái phức tạp của vấn đề. Và những giải pháp được đơn giản hóa quá mức. Sau đó bạn lại gặp vấn đề, và lần này bạn thấy nó đã thực sự phức tạp. Và rồi bạn đi đến những giải pháp vô cùng phức tạp ... đến lúc này hầu như ai nấy đều dừng ở đây, và những giải pháp này nhìn chung chỉ có hiệu quả tức thời. Nhưng những con người vĩ đại thực sự sẽ đi tiếp cho đến khi tìm ra mấu chốt, căn nguyên vấn đề để đạt được một giải pháp hoàn hảo hiệu quả thực sự.”

Steve Levy – tác giả cuốn “The Perfect Thing”

Steve Jobs và Apple dường như là hai tên gọi có thể hoán đổi cho nhau: cuộc thảo luận của công ty ở bất kì diễn đàn nào ngay lập tức gắn với tên và tầm ảnh hưởng của Jobs. Nghiên cứu đầy đủ tìm ra rằng các nhà sáng lập công ty nhất thiết phải có ảnh hưởng sâu sắc đối với tổ chức của họ nhờ vào những đặc trưng nhân cách riêng của họ và Apple – Jobs cũng không ngoại lệ. Bất chấp thực tế bất thường khi Jobs lên làm giám đốc điều hành công ty hai lần, người ta vẫn thấy sức ảnh hưởng của ông lan tỏa ngay cả trong 12 năm tạm ngừng làm việc cho Apple. Dù Jobs không trực tiếp có mặt ở công ty, Apple vẫn phát triển.

Từ những ngày đầu làm việc cho Apple, “cảm quan thiết kế” của Jobs đã tinh tế và đáng tin cậy; cảm quan này chi phối cả công ty và trở nên mạnh mẽ hơn khi nhiều cá nhân đồng tư tưởng được nhận vào hãng làm và khi việc thiết kế ở Apple có những bước tiến đáng kế.  Jobs không được đào tào thiết kế bài bản chỉ bởi ông không có chuyên môn ngành kĩ sư (hoặc ngành kinh tế). Nhưng rồi ngay cả những người được đào tạo bài bản và có nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực này vẫn ấn tượng vô cùng với cả tài năng lẫn năng lực truyền cảm hứng cho người khác của ông. Ông nổi tiếng với tính khí độc tài, phản ánh thực tế yêu cầu phát sinh từ tầm nhìn riêng biệt về ý nghĩa công ty về sản phẩm của hãng và làm thế nào để vươn tới ý nghĩa đó. Tầm nhìn này hướng tới sự thể hiện tốt nhất ở tất cả các phòng ban; nhìn từ phương diện mỹ học, đó là những ý kiến của riêng Jobs về cái làm nên sự hoàn hảo cho thiết kế, nhưng ở các phương diện khác, kết quả thu được lại là trong hoạt động điều hành cấp cao. Sản phẩm với chất lượng cao kịp thời ra mắt. Ý niệm và những vật mẫu ban đầu của sản phẩm không bao giờ cho công chúng biết đến. Những cam kết của hãng là một phần thiết yếu trong quan hệ khách hàng của hãng: một khi công ty đã cho ra công chúng một sản phẩm nào đó, sản phẩm đó sẽ được tự do bày bán thông qua chuỗi cửa hàng trực tuyến và bán lẻ của Apple. Nét vượt trội và sự cam kết này là những đòi hỏi khắt khe – “người thực sự vĩ đại”- người luôn đào sâu vấn đề và đi đến “giải pháp hoàn hảo có hiệu quả” thì luôn nỗ lực thực sự.

Kết quả thực tế lại không dừng lại ở đó và cũng chẳng có đâu cái khái niệm những giải pháp tinh tế và hoàn thiện. Việc giải quyết vấn đề đã bắt đầu làm gia tăng vị thế của hoạt động kinh tế ở Mỹ vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980. “Công việc trí thức” như vậy khác biệt hoàn toàn với những hoạt động liên quan đến “công việc chân tay” như các công việc thường ngày với hình dung chủ yếu về một dây chuyền lắp ráp. Tầm nhìn của Jobs định hướng các sản phẩm của hãng phải là những công cụ cá nhân tạo điều kiên và giúp tăng hiệu quả nỗ lực của các cá nhân trong giải quyết những vấn đề như vậy. Dường như Jobs vẫn tiếp tục nhìn thấy sự nhất quán giữa nỗ lực giải quyết vấn đề trong khâu phát triển sản phẩm của hãng và công việc mà khách hàng phải tư mình đảm nhận. Điểm thu hút không phải là việc chọn các tổ chức hoặc doanh nghiệp làm khách hàng, mà là đặt những cá nhân (và nỗ lực giải quyết vấn đề của những cá nhân này) lên trước hết. Ngày nay, điều này đã dần trở thành ý niệm quen thuộc của Apple; thật khó để cường điệu hóa đóng góp to lớn của quan điểm này vào đầu những năm 1980 khi mà công ty nào công ty nấy đều cố gắng tạo ra “những giải pháp cho doanh nghiệp.”

Bên cạnh tầm nhìn, định hướng, trực tiếp tham gia vào toàn bộ quá trình ra quyết định từ chiến lược đến thiết kế sản phẩm và dịch vụ, đên đóng gói, Jobs thực sự là bộ mặt của Apple. Sản phẩm không tùy tiện xuất hiện, mà được ban quản lý Apple cho ra mắt công chúng theo từng giai đoạn – sản phẩm trước đó được bảo mật tuyệt đối (và nhiều khi hơi thái quá). Để có được sự bảo mật tuyệt đối này, cả những web cam còn được bố trí ngay trên bến cảng sẽ kiểm tra kĩ lưỡng những tàu hàng từ các nhà máy châu Á đến nhằm xác định điều gì đã lọt ra ngoài. Trò chơi mèo-vờn-chuột này tiếp diễn trong hơn một thập kỉ đã đưa Jobs lên ngôi vị mà theo một nhà phân tích gọi đó là Công nương Diana của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Tuy nhiên, không giống “những tiền bối” nổi tiếng khác, Jobs xuất chúng mang đến cho Apple những không gian mới theo cách thật hiệu quả, thật ngoạn mục và cũng thật táo bạo, mà tất cả những không gian này khi hồi tưởng lại dường như là những thay đổi hoàn toàn hợp lẽ tự nhiên. Khi iPhone ra mắt, Apple Computer được đổi thành Apple, điều này có lẽ cũng là thể hiện “Cái đơn giản chính là nét tinh tế cốt lõi.” Vào tháng 11 năm 2009, tạp chí Fortune Magazine đã bình chọn Jobs là CEO của thập kỉ.

Thử nghiệm kinh doanh táo bạo

Một ví dụ điển hình cho sự táo báo là quyết định chuyển sang bán lẻ. Đến bay giờ đã có hàng trăm Apple Store trên toàn thế giới, khó lòng mà tái hiện được những tranh cãi nảy lửa khi toàn bộ ý tưởng được đưa ra lúc bấy giờ. Không chỉ có cửa hàng đầu tiên của ông ty được mở cửa vào tháng 5 năm 2001 – chỉ như “bong bóng công nghệ” đã nổ tung, mà công ty còn đi theo làm nên những nỗ lực tương tự, đáng chú ý nhất công ty máy tính Gateway – đã thất bại thảm hại. Dĩ nhiên, các Apple Store được tạo ra với sự tập trung tỉ mỉ vào chi tiết làm nên các sản phẩm công ty (và vì thế mà Apple Store là dự án đắt đỏ): Các Apple Store thực sự cũng là các sản phẩm của Apple, không phải là các đại lý bán hàng đơn thuần. Vì thế mà, những cửa hàng này thường nằm ở những khu cao cấp trong các khu mua sắm cao tầng và/hoặc những không gian rộng và phải được đánh giá “có kiến trúc hoàn mỹ.”

Nhưng vào thời điểm công ty bắt đầu chuyển dịch, các cửa hàng, bất cứ cửa hàng bằng “gạch” thường nào được các chuyên gia cho rằng sẽ lụi bại trước chỉ “những cú nhấp chuột” trên Internet và hướng mua sắm trên Web được thế giới hết lời ca tụng của Dell được xem là sự áp dụng tốt nhất. Mô hình dựa trên Internet đó cho phép khách hàng tạo sản phẩm cho riêng họ bằng việc cung cấp kết hợp nhiều tính năng để có thể dựa vào đó nhanh chóng xây dựng và giao nhận sản phẩm qua quy trình sản xuất và phân phối vô cùng hiệu quả của công ty. Cùng với giới phân tích và các chuyên gia kinh doanh, tờ tạp chí BusinessWeek cũng ủng hộ mạnh mẽ mô hình của Dell:

Tính đến năm 2002, Dell đã cho ra đầy đủ các dòng sản phẩm từ máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy trạm, máy chủ ngoài và còn có phần mềm, dịch vụ và hỗ trợ. Công ty đạt doanh thu 31,9 tỷ USD, gần một nửa trong số đó là từ trang Web công ty. Ban quản trị của Dell cho rằng công ty thành công là nhờ vào mô hình kinh doanh khác biệt – tập trung vào kinh doanh trực tiếp và quy trình sản xuất theo đơn hàng. Dell chỉ cần 36 giờ kể từ khi nhận đơn hàng để giao đến cho khách hàng ... Khách hàng có thể sử dụng trang web của Dell thiết kế chính xác cấu hình phần cứng và phần mềm mà họ yêu cầu và họ cũng ngay lập tức biết được số tiền họ phải chi trả.

Trái lại, khách hàng đến với Apple Store sẽ thấy các sản phẩm ở đây đã có sẵn cấu hình với mức giá cao hơn hẳn so với các sản phẩm trên trang web Dell (và ở bất cứ hãng nào khác); cũng không có máy trạm, máy chủ và các phần mềm được bày bán thì hạn chế. Trên thực tế, hoàn toàn không có nhiều sản phẩm. “Các thiên tài” tại “quầy” trong cửa hàng sẽ giúp khắc phục lỗi và hỗ trợ về mặt công nghệ, hướng đi này rút cuộc cũng hiệu quả nhưng thực sự vẫn bị coi là kì quặc vào thời điểm đó. Cùng lúc hãng bắt đầu mạo hiểm xâm nhập vào thị trường bán lẻ thì chưa có nhóm khách hàng đặc biệt cuồng iPod để tập trung vào – iPod mới cho ra mắt năm tháng sau khi cửa hàng đầu tiên ở McLean, Virginia được mở. Những chiếc máy tính Macintosh tuy có lượng người tin dùng ổn định nhưng vẫn chỉ chiếm phần trăm rất nhỏ trên thị trường (khoảng 3%). Ai sẽ đến với Apple Store? Và với mục đích gì?

Đánh cược vào “lưu lượng khách hàng” theo giới phân tích cho rằng là kỳ cục vào thời điểm đó. Nhưng lưu lượng khách hàng chính là điều mà các cửa hàng đã tạo ra vì những khách hàng không phải tín đồ Apple nhưng lại hiếu kì cùng với những tín đồ của hãng đã bị không gian tao nhã trong các cửa hàng thu hút, nơi ngập tràn những sản phẩm đẹp và tiện ích vượt trội có thể dễ dàng cảm nhận. Bảy năm sau đó, các Apple Store đã trở thành “điểm đến” – thiên đường bán lẻ khi các sản phẩm của Apple với chất lượng tốt như khi trưng bày nhưng doanh số tăng và được nhiều người ưa chuộng. Những người đến đây mua hàng cũng thu hút thêm nhiều khách hàng đến hơn nữa, và rồi một hình thành một vòng tròn liên hoàn. Sự có mặt quan trọng của “quầy những thiên tài” – nơi mà công ty tiến hành sửa chữa thiết bị cho công chúng, điều này tạo hình ảnh trên cả tuyệt vời cho công ty trong mắt mọi người. Thành quả sẽ tự nhiên tới: các cửa hàng Apple rút cuộc đã tạo được doanh thu theo lưu lượng khách hàng cao nhất trong toàn bộ lĩnh vực bán lẻ.

Tất nhiên, hướng chuyển dịch sang hoạt động bán lẻ không phải là “cửa hàng” đầu tiên Apple tạo ra; iPod chuyển từ một thiết bị nền tảng iTunes thành thiết bị truy cập được cả khi nhạc trên iTunes Music Store. Gần đây, công ty có cho ra iPhone Apps Store, chắc chắn kho dữ liệu cho iPad cũng theo đó mà ra đời. Hơn mười tỷ bài hát và ba tỷ ứng dụng được tải xuống từ các cửa hàng của hãng. Toàn bộ nền công nghiệp âm nhạc buộc phải theo tầm nhìn của Jobs về loại nhạc dễ tiếp cận mà giá rẻ và còn có thể “phát” theo ý muốn người dùng. Tương tự như vậy, ngành công nghiệp phim ảnh cũng đang dần được đưa vào quy củ. Vì thế mà, không chỉ có Apple mà là toàn bộ các ngành công nghiệp đều phát triển mô hình kinh doanh của mình dựa trên ý niệm sự đơn giản làm nên nét tinh tế của Jobs.

Chống lại tư duy lối mòn

Nhiều báo chí bàn về “Apple” và “Jobs” (thu được hơn 100 triệu kết quả tham chiếu trên Google) có nhiều bình luận lớn, nhiều khi còn thái quá về “thất bại” của công ty khi phản ứng với những gì đang diễn ra trên thế giới. Phong trào nguồn mở (được Linux hỗ trợ) đã bị Apple gần như phớt lờ. Công ty vẫn kiên định phát triển và hoàn thiện phần cứng và phần mềm của riêng hãng. Công ty tuyên bố sẽ thiết kế con chip của riêng hãng cho iPod, iPhone và iPad – bước chuyển lạc hậu này là khác xa với cách nền công nghiệp máy tính đang tiến triển. Chiếc iPhone “khóa” nguyên gốc nhận không ít những ý kiến kịch liệt. Công ty tấn công vào các trang web dám suy đoán về kế hoạch công ty, trong một số trường hợp còn kiện cả tác giả. Cùng thời điểm này, Apple đã “mở” đến những cộng đồng phát triển phần mềm ở bên ngoài công ty theo cách riêng của hãng, và tạo ra “Apple Store” cùng với “các cửa hàng” khác công ty đã lập nên. Trên thực tế, có rất ít ứng dụng do các nhân viên Apple phát triển.

Các nhà cung ứng Apple khá kín tiếng về những gì họ đang làm; họ hiểu rằng chỉ cần một lần lỡ lời có thể đánh mất công ty. Có những web cam trên cảng đất liền để nhận diện sản phẩm nhập từ các nhà sản xuất từ những nơi khác bởi vì công ty chẳng bao giờ hé mở rằng chuyện gì đang diễn ra. Trong một thế giới mà hiện nay xuất hiện các công nghệ nền tảng mở, hợp tác, những người phát triển bên thứ ba, thiết kế “cộng đồng” và sự minh bạch, Apple dường như rõ ràng là kẻ lập dị. Tất nhiên, theo một cách nào đó công ty vẫn tạo nên những sản phẩm theo mong muốn người dùng – những sản phẩm đã giành nhiều giải thưởng thiết kế và Apple cũng như nhà lãnh đạo công ty được cả thế giới tung hô.

Việc coi thường xu thế phát triển của Apple là hiển nhiên có và rõ ràng và có những ảnh hưởng nhất định tiếp tục trong một thời gian khá dài và ở nhiều lĩnh vực. Chính điều này làm dấy lên những trăn trở liệu rằng giả định về cái gì là mở và đóng, ý nghĩa thực thụ của minh bạch là gì, quan niệm khách hàng trên hết/ phát triển trước tiên có hàm ý gì...là hoàn toàn dễ hiểu. Có lẽ có những cách khác khi xem xét cách những sản phẩm “vĩ đại theo cách bất thường” xuất hiện.

Liên tục học hỏi và sửa đổi

Jobs đã từng nhấn mạnh “Chúng tôi thành công nhờ mạnh dạn tỉnh lược nhiều chi tiết” và sự đơn giản trong những sản phẩm của hãng đã thể hiện ngay từ đầu. Xuất phát từ mục đích thương mại mà các sản phẩm làm ra “tất cả chúng ta có thể sử dụng” giống như câu nói trong các quảng cáo nổi tiếng của hãng hồi đầu. Nhưng tỉnh lược và “sự giản đơn” chẳng phải động cơ hay mục đích gì cả. Nó đơn giản rằng quyết định “cho ra đời cái gì” tự động sẽ tạo được ra những sản phẩm hấp dẫn và dễ sử dụng mà Apple và Jobs vẫn nỗ lực hướng tới và thường đạt tới được. Làm một thứ gì đó sử dụng “đơn giản” không có nghĩa là phải cắt giảm các tính năng; biến một thứ trở nên tao nhã không đồng nghĩa phải bỏ đi nhiều “đặc điểm”.

Hơn nữa, những sản phẩm này phải tiên tiến và liên tục có những tính năng mà trước giờ chưa có. iPod như chúng ta vẫn thấy ban đầu chỉ được làm trên một chất liệu và có một màu, và rồi như một sản phẩm của hãng, iPod “biến thành” một phiên bản khác với một chất liệu khác và có nhiều màu đa dạng. Imac khi xuất hiện vào năm 1998 đã có nhiều màu hơn nhưng theo một hình dáng quy định, trong nhiều năm về sau đã “thành” chiếc máy với chỉ màu trắng, hiện giờ được bày bán với nhiều cấu hình khác nhau – và ai biết được chuyện gì sẽ xảy ra vào năm kế tiếp? iPhone nằm ngoài dự định của hãng mà giờ đây đã có riêng một công nghệ cơ sở phát triển phần mềm và vô số những ứng dụng tiện ích; thỏa thuận quyền số hóa để giúp hỗ trợ toàn bộ nguyên lý thiết kế iTunes Store đã bị gián đoạn. Dường như luôn luôn có những phương án hợp nhất mới. Tuy nhiên, có một hướng đi luôn đứng vững – là nhìn vào những sản phẩm và cách sử dụng chúng.

Có lẽ, ví dụ nổi bật nhất là cách công ty “chống kinh doanh” nham hiểm – xuất hiện rực rỡ trên quảng cáo Super Bowl cho Macintosh vào năm 1984 cuối cùng đã nắm giữ công nghệ nền tảng của đối thủ. Trong suốt thời gian Jobs vắng mặt, các CEO liên quan tất cả đều bàn luận sôi nổi về những chiến lược đa dạng cho cái gọi là khả năng tương tác nền tảng Windows với máy tính cá nhân cùng với theo đuổi thị trường các doanh nghiệp. Trong khi Jobs khi quay lại tình nguyện thu xếp ổn thỏa chương trình cấp bằng sở hữu, ông còn đẩy mạnh phát triển hệ điều hành OS X dựa trên cấu trúc của NeXT mà ông hướng tới sau khi rời Apple, và hệ điều hành cuối cùng có thể tương thích với nền tảng Windows. Apple đã (liên tục) đẩy người dùng Windows muốn có iPod. Và thậm chí trước đó, trải nghiệm MacWorld đầu tiên khi Jobs quay về công ty, ông đã công bố “khoản đầu tư” 150 triệu USD của Microsoft. Những người quan tâm bàn tán nhưng phố Wall lại rất vui. Như đã chỉ ra, những bước chuyển dịch như vậy ắt hẳn sẽ có tác động trở lại. Dĩ nhiên một thiết bị được nhiều người ưa thích như iPod thì phải đảm bảo “ai nấy” đều đến được với nó. Tất nhiên, nếu bạn muốn máy tính bạn tạo ra là cho tất cả mọi người, bạn phải đảm bảo chúng tương thích với mọi người sử dụng.

Các thử nghiệm táo bạo có căn cứ đã giúp Jobs xây dựng nên Apple. Nhưng liệu không có Jobs, Apple có tồn tại? Ở Pixar, ông đã rời bỏ một công ty đã rất thành công mà chẳng cần đến những nhân cách vĩ đại. Trong suốt quãng thời gian Jobs ngừng làm việc để trị liệu, Apple vẫn tiếp tục cho ra mắt những sản phẩm mới và thu được những thành quả tài chính ấn tượng. Apple sẽ có những bước tiến gì khi bước sang thập niên thứ hai của thế kỉ XXI?


0 Response to "CASE STUDY - TƯ DUY VÀ CẢI TIẾN THIẾT KẾ CỦA APPLE - KỲ 2"

Đăng nhận xét

Xem nhiều nhất

Xem nhiều nhất trong tháng