[Tóm tắt ý tưởng lớn]
Ý tưởng lớn: Đã đến lúc rũ bỏ niềm tin phổ biến rằng các tập đoàn phải ưu tiên trước hết vào việc tối đa hoá giá trị cổ đông. Suy nghĩ đó rất cố hữu và thiếu sót nghiêm trọng.
Luận cứ: Việc liên tục gia tăng giá trị cổ đông là không thể, bởi vì giá cổ phiếu được dẫn dắt bởi kì vọng của các cổ đông về tương lai, mà kì vọng thì không thể nâng lên mãi được.
Số liệu cho thấy: Việc tập trung vào giá trị cổ đông chẳng mang lại lợi ích gì cho họ cả. Thực tế thì họ còn kiếm được ít lợi nhuận hơn vì các tập đoàn coi cách tiếp cận đó như kim chỉ nam cho hoạt động của mình.
Cách tiếp cận tốt hơn: Hãy coi giá trị của khách hàng làm ưu tiên hàng đầu, như cách mà Johnson & Johnson và Procter &Gamble đã làm. Hai tập đoàn này đem về số lợi nhuận cho các cổ đông ít nhất, nếu không phải nhiều hơn, bằng lợi nhuận của các công ty dẫn đầu thị trường chỉ tập trung vào cổ đông.
Trải qua ba thập niên, nhiều nhà quản trị coi việc tối đa hoá giá trị cổ đông là ưu tiên hàng đầu của họ. Tuy nhiên, có căn cứ chứng minh rằng cổ đông sẽ được lợi hơn nếu các công ty đặt lợi ích của khách hàng lên trước.
Chủ nghĩa tư bản hiện đại có thể được tách nhỏ ra thành hai kỷ nguyên chính. Kỷ nguyên đầu tiên, chủ nghĩa tư bản quản lý, mở ra vào năm 1932 và được xác định bởi nhiều khái niệm cấp tiến thời bấy giờ rằng các công ty phải có một hệ thống quản trị chuyên nghiệp. Kỷ nguyên thứ hai, chủ nghĩa giá trị cổ đông, bắt đầu từ năm 1976. Thời kỳ này lấy giả thuyết rằng mục tiêu của mỗi tập đoàn nên hướng tới việc tối đa hoá tài sản cổ đông. Nếu các công ty theo đuổi mục tiêu này, theo như lý luận chỉ ra, thì cả cổ đông và xã hội sẽ đều hưởng lợi. Lý luận nền tảng này có nhiều thiếu sót nghiêm trọng,và đã tới lúc chúng ta phải rũ bỏ nó và làm nên một công cuộc chuyển đổi sang kỷ nguyên thứ ba”: Chủ nghĩa Tư bản định hướng khách hàng.
Việc mở ra hai kỷ nguyên đầu tiên đều được báo trước bởi một công trình học thuật có tầm ảnh hưởng. Vào năm 1932, Adolf A. Berle và Gardiner C. Means đã công bố bản luận thuyết huyền thoại “Các Tập Đoàn Hiện Đại và Sở Hữu Tư Nhân”. Luận thuyết này quả quyết rằng công tác quản lí nên được tách khỏi quyền sở hữu. Sau đó, giới kinh doanh đã không còn bị thống trị bởi các CEO kiêm chủ sở hữu như Rockerfellers, Mellons, Carnegies và Morgans nữa. Các công ty sẽ hoạt động bằng cách thuê nhân sự ở bên ngoài, tạo điều kiện cho sự phát triển một tầng lớp mới là các CEO chuyên nghiệp. Theo Berle và Means thì xu hướng này không có gì đáng sợ cả; đó là một phần của một kỉ nguyên huy hoàng mới dành cho việc bành trướng nền kinh tế (Cuối cùng, do Đại Suy Thoái, cần tới vài năm sau mới có thể diễn ra)
Tình trạng chủ sở hữu nắm quyền làm CEO chắc chắn sẽ còn tiếp diễn, nhưng các nhà quản lý chuyên nghiệp đã đang dần chiếm thế thượng phong ở các văn phòng. Các nhà doanh nghiệp được thoải mái mở các công ty mới; nhưng khi công ty đạt tới một quy mô đáng kể, sẽ là khôn ngoan nếu trao quyền kiểm soát công ty cho những nhà quản lý chuyên nghiệp, những người thường đáng tin cậy và kiên định hơn ở giai đoạn này.
Sau đó vào năm 1976, chủ nghĩa tư bản quản lý nhận được nhiều lời quở trách chua cay từ: “Thuyết các công ty: Hành vi Quản lý, Chi phí đại diện và Cơ cấu sở hữu,”của Michael C. Jensen và William H.Meckling được công bố trên Nhật báo Kinh tế tài chính. Bài báo đã trở thành chủ đề học thuật kinh doanh được trích dẫn nhiều nhất mọi thời đại. Bài viết tranh luận rằng các chủ doanh nghiệp đang nhận được những lời xưng tội ngắn ngủi từ phía những nhà quản lý chuyên nghiệp, những người hiện quan tâm tới việc nâng cao sự vững mạnh tài chính của bản thân họ hơn là của cổ đông. Jensen và Meckling cho rằng điều này thật tệ đối với các cổ đông và là sự lãng phí cho nền kinh tế nói chung; những nhà quản lý đang phung phí tài sản của công ty và các nguồn lực trong xã hội để trang hoàng cho tài khoản cá nhân của mình.
Những lời chỉ trích của họ dẫn lối đi vào kỉ nguyên hiện tại của chủ nghĩa tư bản,khi các CEO nhanh chóng nhận thấy nhu cầu phải thề thốt tận tâm với nhiệm vụ “tối đa hoá giá trị cổ đông.” Ban lãnh đạo các tập đoàn sớm coi công việc của họ làcăn chỉnh lợi ích của các quản lý cấp cao với những lợi ích của cổ đông bằng cách sử dụng hệ thống khuyến khích dựa vào cổ phiếu. Sẽ không có chuyện các cổ đông bị lạm dụng nữa. Họ sẽ là vua.
Hai biểu tượng then chốt cho các bước tiến trong xu hướng tập trung vào cổ đông có lẽ là Roberto Goizueta, CEO của Coca-Cola từ năm 1981 đến khi ông qua đời vào năm 1997 và Jack Welch, CEO của General Electric từ năm 1981 đến 2001. Bài phát biểu của Welch tại khách sạn Pierre ở New York, vài tháng trước khi ông được bổ nhiệm, được nhìn nhận bởi nhiều người như một bình minh mới cho kỷ nguyên giátrị cổ đông. Mặc dù không trực tiếp sử dụng khái niệm đó một cách dứt khoát,bài phát biểu đã đánh dấu một bước chuyển rõ ràng sang việc tập trung ưu tiên cho lợi nhuận. Hai người đàn ông này đều là những người dám nói thẳng sự bênh vực cho việc hướng công ty tập trung vào giá trị của cổ đông. Và cả hai người đều nhận được các khoản bồi thường bằng cổ phiếu với giá trị lớn chưa từng có.Goizueta là nhà quản lý người Mỹ đầu tiên trở thành tỉ phú trên cơ sở nắm giữ cổ phần ở một công ty mà mình không phải người sáng lập, hoặc đưa lên sàn. Số cổ phiếu GE ước tính trị giá 900 triệu đô la cũng là khoản sở hữu của Welch vào thời điểm ông rời khỏi công ty.
Một Logic còn thiếu sót
Thực sự thì các cổ đông có được lợi hơn từ khi họ thế chỗ những nhà quản lý làm trung tâm của công việc kinh doanh? Câu trả lời đơn giản là không. Từ năm 1933 đến hết năm 1976, thời điểm được cho là các cổ đông đã giáng cho giới quản lý chuyên nghiệp một vố lừa thứ hai, họ - những cổ đông của các công ty S&P 500 kiếm được lợi nhuận thực hàng năm 7.6%. Từ năm 1977 đến hết năm 2008, khoản lợi nhuận thực thu được dừng ở mức 5.9% một năm, tệ hơn đáng kể. Nếu thay đổi thời gian bắt đầu và kết thúc của hai giai đoạn thì các con số thể hiện sẽ ngang bằng nhau. Tuy nhiên, không có dấu hiệu chứng tỏ cổ đông được lợi lộc nhiều hơn khi quyền lợi của họ được đưa lên ưu tiên hàng đầu. Trên cơ sở này, khó để nói rằng các cổ đông đang hưởng lợi từ Jensen và Meckling. Câu trả lời phản trực giác đó đòi hỏi một câu hỏi khơi gợi đằng sau: Nếu cổ đông là tất cả những gì các công ty quan tâm, liệu tập trung vào việc tăng giá trị của họ có phải là cách tốt nhất bảo đảm rằng họ sẽ được lợi?
Tôi tin là câu trả lời cho câu hỏi này cũng sẽ là không. Thay vào đó để tạo ra giá trị cho cổ đông, tôi sẽ chỉ ra sau đây, thì nên tập trung vào việc tối đa hoá sự thoả mãn của khách hàng. Nói cách khác, Peter Drucker đã đúng khi cho rằng mục tiêu chính của việc kinh doanh là kiếm được khách hàng và giữ chân họ lại. Điều này chắc mọi người chẳng còn lạ gì nữa.
Khoan một chút, sẽ có người thắc mắc rằng sao không cùng lúc có hai mục tiêu song song, tối đa hoá cả sự hài lòng của khách hàng lẫn giá trị cho cổ đông. Thật không may, theo thuyết tối ưu, không thể nào đồng thời tối ưu hoá hai thứ khác nhau – tức là tối đa hoá hai khả năng mong muốn, hoặc tối thiểu hoá hai khả năng không mong muốn. Việc tối đa hoá giá trị cho cổ đông có thể khả thi với nỗ lực tối thiểu dành cho việc làm thoả mãn khách hàng, hoặc việc tối đa hoá sự hài lòng của khách hàng cũng có thể khả thi với nỗ lực tối thiểu dành cho việc trân trọng cổ đông; nhưng không thể tối đa hoá cả hai.(Còn tiếp)

0 Response to "THỜI ĐẠI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN KHÁCH HÀNG - Roger Martin - Kỳ 1"
Đăng nhận xét