Bài viết bao gồm ba phần: bối cảnh hậu suy thoái năm 2007, kết quả nghiên cứu và phân tích của các tác giả về 4 nhóm công ty với các hướng tiếp cận chiến lược trước, trong và hậu suy thoái, từ đó các tác giả đưa ra kết luận về hướng tiếp cận tối ưu nhất.
Dịch giả: Bùi Hồng Hạnh – Học viện Ngân hàng
Các tác giả:
Ranjay Gulati (rgulati@hbs.edu) - là Giáo sư
của giải Jaime và Josefina Chua Tiampo, Trường Kinh doanh Havard, tác giả
cuốn “Reorganize for Resilience”
Nitin Nohria (nnohria@hbs.edu) - là Giáo sư
của giải Richard P. Chapman, Trường Kinh doanh Havard, đồng tác giả cuốn
“Handbook of Leadership Theory and Practice” với Rakesh Khurana
Franz Wohlgezogen (f-wohlgezogen@kellogg.northwestern.edu) - là nghiên cứu
sinh tại Trường Quản trị Kellogg, Đại học Northwestern
Trước hết, suy thoái 2007 tạo cho các CEO nhiều
lo ngại. Họ mơ hồ về đường hướng phải đi trong khi khủng hoảng có thể lan rộng.
Mặc dù nền kinh tế có thể bắt đầu phục hồi, nhưng điều này có thể
không kéo dài và có nguy cơ xảy ra suy thoái kép. Hoàn cảnh thay đổi như
vậy đòi hỏi các CEO cũng phải thay đổi ưu tiên cho phù hợp. Tuy vậy,
họ lại mải đeo đuổi những mục tiêu ngắn hạn đến mức họ không chắc
chắn về hướng tiếp cận chiến lược trong tương lai. Trong khi đó, có quá
ít nghiên cứu tìm ra chiến lược giúp công ty sống sót và phục hồi nhanh nhất
sau khủng hoảng, cũng như là sẵn sàng đương đầu khi một cuộc khủng hoảng như
thế xảy đến, nhất là nghiên cứu dựa trên thực nghiệm.
Do đó, các tác giả đã thực hiện một nghiên cứu trên 4700 công
ty trong 3 cuộc suy thoái năm 1980, 1990, 2000. Về phương pháp nghiên cứu,
các tác giả sử dụng dữ liệu trong 3 năm trước suy thoái, trong thời
gian suy thoái, và 3 năm sau suy thoái, sau đó phát triển các giả
thuyết về tác động của sự thay đổi về chiến lược đến
kết quả hoạt động kinh doanh của các đối tượng nghiên cứu sau suy
thoái. Để kiểm định các giả thuyết này, cần phải xác định những
thay đổi về chiến lược bằng cách tính toán thay đổi về
phân bổ nguồn lực sử dụng trước và sau suy thoái, thông qua 6 khoản
mục trên bảng cân đối kế toán. Tiếp đó là xác định những thay đổi
chính yếu thông qua hai bước. Bước thứ nhất là tính toán các thay
đổi sau đó điều chỉnh theo mức trung bình ngành; và bước thứ hai là
tính toán điểm phần trăm với giả định chỉ những công ty ở top 33%
hoặc 33% dưới cùng là có mức tăng (giảm) đáng kể. Các công ty này
được chia ra thành 4 nhóm:
Nhóm chú trọng vào phòng ngự là những công ty thắt chặt chi tiêu nhiều hơn trên ít nhất 1 trong
6 khoản mục và không chi gì vượt quá lượng các đối thủ bỏ ra một cách tương
đối.
Nhóm chú trọng vào thúc đẩy là những
công ty chi nhiều tiêu nhiều hơn một cách tương đối so với các đối thủ
cạnh tranh, ngược lại so với nhóm chú trọng vào phòng ngự.
Nhóm thực dụng là những công ty giảm giá
vốn hàng bán hoặc nhân công, và tăng
SG&A, CAPX, PP&E nhiều hơn so với các công ty cùng ngành.
Nhóm tiến bộ là những công ty giảm
giá vốn hàng bán nhưng không giảm nhân công, tăng các khoản mục liên
quan đến thị trường như SG&A và R&D, và các khoản mục liên quan
tài sản như CAPX và PP&E nhiều hơn so với các đối thủ cạnh tranh.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty có cả tỷ lệ tăng
trưởng doanh thu và lợi nhuận cao hơn 10% so với đổi thủ sau suy thoái
đã đạt được kết quả hoạt động kinh doanh vượt xa so với đối thủ
cạnh tranh (nghĩa là có mức tăng trưởng cao hơn 5 -20% so với mức trung
bình ngành.) Từ đó các tác giả tính toán xác suất các
công ty trong mỗi nhóm đạt được kết quả này, trong đó nhóm kết hợp
cân bằng hai phương pháp đươc coi là thành công nhất với xác suất là
37%.
Tiếp đó, các tác giả phân tích các nhóm và đưa ra số liệu minh chứng cụ thể.
Về nhóm Phòng thủ, các CEO của nhóm này cắt giảm chi phí hoạt động kinh doanh và
không đầu tư mới. Đây là hướng tiếp cận không thành công do nó gây ra
bốn hậu quả chính. Thứ nhất là, các CEO và nhân viên ra mọi quyết
định với điều kiện là phải cắt giảm chi phí. Từ đó, họ đặt mục tiêu
thấp, ít đổi mới sáng tạo, trong khi giảm chi phí không nhiều. Thứ
hai là, hoạt động của công ty không tiến triển mà còn kém hiệu quả hơn
khiến cho chất lượng sản phẩm và sự hài lòng của khách hàng giảm
sút. Thứ ba là, quyết định về cắt giảm chi phí bị tập trung hóa;
nghĩa là công ty cắt giảm chi phí hàng loạt mà ít chú ý đến các
sáng kiến là hạt nhân để phát triển hậu suy thoái. Cuối cùng, hướng
tiếp cận này có thể gây ra sự bi
quan trong toàn bộ tổ chức. Ví dụ đưa ra là thất bại của Sony
khi họ cho đóng cửa nhiều nhà máy, sa thải 16,000 nhân công và trì
hoãn các khoản đầu tư, khiến cho mức tăng trưởng doanh thu giảm từ 11%
xuống còn 1%.
Về nhóm Tấn công, một số lãnh đạo vẫn theo đuổi cơ hội khi đang xảy ra suy thoái,
và họ viện cớ này để đẩy mạnh thay đổi. Ví dụ được đưa ra là thất
bại của HP khi công ty này thực hiện một chương trình tái cơ cấu
khổng lồ nhưng cuối cùng tăng trưởng doanh thu lại thua IBM và Dell. Ngoài ra, các lãnh đạo cũng có biểu
hiện lạc quan quá mức khi bỏ qua những dấu hiệu cảnh báo từ sớm, điều
này dẫn đến thất bại bất ngờ. Bên
cạnh đó, khi các công ty phải giải quyết cơ cấu vốn tăng mạnh, các thay
đổi được thực hiện lại quá ít và quá muộn. Nguyên nhân là thay vì
cùng nhau giải quyết vấn đề, các phòng ban lại tranh nhau nhận công
và đổ tội. Việc đánh đổi khó mà xảy ra, do đó việc ra quyết đinh
trở nên cứng nhắc. Trong khi đó
một số công ty lại tăng phí tổn với hy vọng sẽ dẫn đầu trong ngành,
nhưng không phải trường hợp nào họ cũng thành công.
Về hai nhóm áp
dụng cả hai hướng tiếp cận, trước hết
xét đến nhóm Thực dụng. Mặc dù các CEO của nhóm này nhận thức
được là cả cắt giảm chi phí và tăng đầu tư đều quan trọng, nhưng họ
lại chỉ kết hợp hai phương pháp này một cách rất đơn giản. Thông
thường, các công ty kết hợp ba hướng tiếp cận phòng thủ (cắt giảm
nhân sự, tăng hiệu quả hoạt động, và cả hai) với ba hướng tiếp cận
tấn công (phát triển thị trường mới, đầu tư tài sản mới, và cả
hai). Như vậy là có tới 9 cách kết hợp hai hướng tiếp cận với các
kết quả khác nhau. Trong đó, chỉ có một cách kết hợp có khả năng
đem lại kết quả cao nhất, đó là cách của nhóm Tiến bộ.
Điểm cốt yếu để thành công là các CEO phải tuân theo nguyên tắc về chi phí và
thận trọng về tài chính, xác định cơ hội mang lại lợi nhuận. Về
hiệu quả hoạt động, các công ty thuộc nhóm này chú trọng đến đến
hiệu quả hoạt động kinh doanh. Mặc dù họ có sa thải nhân công nhưng
ít hơn so với đối thủ cạnh tranh. Lý do cho việc này liên quan đến
đạo đức; theo đó cam kết của nhân viên với lãnh đạo khiến cho họ
sáng tạo trong cắt giảm chi phí. Ngược lại, chi phí sẽ tăng khi công
ty đi thuê nhân viên mới sau đó, trong khi mọi người cũng không thích
các công ty sa thải nhân viên trong lúc khó khăn. Ngoài ra, họ đầu tư
vào cả mảng kinh doanh mới và hiện có khi phát triển thị trường mới
và tăng tài sản. Họ tận dụng giá cả thấp để giảm chi phí mua các
tài sản cố định trong thời kì suy thoái, vì chi phí thấp hơn sẽ mang
lại thu nhập cao hơn cho công ty trong giai đoạn hậu suy thoái. Việc thận
trọng đầu tư vào marketing và R&D cũng được thực hiện. Mặc dù
việc này không mang lại nhiều lợi ích trong suy thoái nhưng nó sẽ làm
tăng doanh thu và lợi nhuận hậu suy thoái. Cuối cùng, các công ty này dựa
trên những yêu cầu của khách hàng để đưa ra các quyết định phù hợp.
Như vậy, việc cắt giảm chi phí quá mức và hạn chế đầu tư mới
hay ngược lại, hoặc kết hợp hai phương pháp một cách quá đơn giản
đều không mang lại kết quả cao nhất. Để có thể vượt qua khủng hoảng
và phục hồi mau chóng, các công ty cần có sự kết hợp cân bằng và
hợp lý giữa hai phương pháp này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bản gốc: “Roaring Out of Recession”, Havard
Business Review, ấn bản tháng Ba năm 2010.

0 Response to "MẠNH MẼ VƯỢT QUA SUY THOÁI"
Đăng nhận xét