Ngành công nghiệp cấp vốn cho các nhà sáng chế và kiếm tiền từ các phát minh của họ có thể sẽ làm thay đổi thế giới.
[Tóm tắt]
Ý tưởng lớn:
Thế giới cần một thị trường vốn cho các phát minh giống như thị trường vốn đầu tư mạo hiểm cho những công ty khởi nghiệp và thị trường vốn đầu tư tư nhân dành cho các công ty hoạt động kém hiệu quả.
Luận cứ :
Phát minh – việc tạo ra các ý tưởng hữu ích, đáng để được cấp bằng sáng chế - là một hoạt động khác thường, cực kì tốn kém và phụ thuộc quá mức vào sự hào phóng của chính quyền bởi nó không được liệt vào danh mục các hoạt động thu lợi nhuận.
Cách tiếp cận tốt hơn :
Tạo lập một thị trường nơi bằng sáng chế có thể được mua, bán hoặc cấp một cách hiệu quả thông qua các nguồn quỹ đầu tư – những quỹ quản lý rủi ro cao bằng cách tích luỹ các danh mục khổng lồ các bằng sáng chế, và đóng gói chúng lại nhằm tối đa hoá giá trị của chúng. Các nhà tư bản cấp vốn phát minh chuyên nghiệp sẽ không chỉ vận hành các quỹ như vậy mà họ cũng sẽ cung cấp dịch vụ để hỗ trợ các công ty, các trường đại học và các nhà phát minh độc lập phát triển và kiếm tiền từ những ý tưởng của chính mình.
Công ty Intellectual Ventures của tôi đã rơi vào cảnh bị mọi người hiểu lầm.
Bấy lâu nay, chúng tôi vẫn bị chửi rủa là lũ “Đầu cơ bản quyền sáng chế” – một
dạng thu lợi bất chính bằng cách mua đứt các bản quyền và rồi dùng chúng để gây
khó dễ cho những công ty thiếu kinh nghiệm khác. Thực sự công việc chúng tôi đang làm là tạo ra một thị trường
vốn cho các loại sáng chế. Kiểu thị trường này gần giống với những thị trường vốn
đầu tư mạo hiểm - nơi thường rót vốn cho các công ty khởi nghiệp; hay thị trường
vốn đầu tư tư nhân - nơi tiếp lại sức sống cho các công ty làm ăn kém hiệu quả. Mục đích của
chúng tôi là biến các nghiên cứu ứng dụng thành những hoạt động thu lợi nhuận để
thu hút rộng rãi hơn nữa các khoản đầu tư tư nhân so với hiện tại. Từ đó chắp
cánh cho số lượng các phát minh được tạo ra tăng lên mạnh mẽ.
Vài người có thể
cho là “Điều đó thật ngớ ngẩn,”. “Việc phát minh không thể trở thành công việc
kinh doanh được bởi nó quá mạo hiểm, và các phát mình thường quá khó nắm bắt để
có thể tự chúng đẻ ra được lợi nhuận. Việc phát minh và các phát minh không thể
bị tách rời khỏi những công ty đã chuyển các ý tưởng đó thành các sản phẩm thực
sự. Và ý nghĩ tạo lập nên một thị trường thanh khoản cao cho các phát minh là điều
thật xuẩn ngốc.”
Tôi hoàn toàn
không tán thành với ý kiến trên. Vào những năm 1970, mọi người đều nói điều
tương tự đối với một loại hình khác của sở hữu trí tuệ: phần mềm. Thời đó, ai
ai trong ngành công nghiệp máy vi tính cũng tin rằng phần mềm chỉ có giá trị vì
nó giúp ích cho việc bán các dàn máy tính trung tâm hay các bộ máy tính nhỏ. Và
phần mềm không thể được bán ra một cách độc lập. Kết quả là, các kĩ sư phần mềm
đều làm việc cho hoặc các nhà sản xuất máy vi tính hoặc các công ty sử dụng máy
vi tính. Rất ít các nhà bán lẻ phần mềm tồn tại lúc bấy giờ và nếu có thì lợi
nhuận kiếm được cũng không đáng là bao. Nếu được coi là một ngành kinh doanh
thì lĩnh vực phần mềm quả thực vô vọng. Mọi người đều phán vậy.
Lẽ dĩ nhiên, mọi
người đều đã mắc sai lầm. Trải qua ba thập kỉ tiếp theo, lĩnh vực phần mềm trở
thành một trong những ngành kinh doanh thu được lợi nhuận cao nhất trong lịch sử
nhân loại. Tôi biết chắc điều đó. Với tư cách là một nhà quản lý và hơn hết lại
là Giám đốc công nghệ của Microsoft, tôi có một tầm quan sát khá đắc địa đối với
câu chuyện thành công của lĩnh vực này.
Sự đi lên của
ngành công nghiệp phần mềm phần lớn nhờ vào sự phát triển của hai điều cốt yếu sau. Thứ
nhất, những nhà bán lẻ phần mềm rất chịu khó thuyết phục người sử dụng – thông
qua cả biện pháp giáo dục lẫn các vụ kiện tụng – rằng hãy tôn trọng các quyền sở
hữu trí tuệ và trả phí cho việc sử dụng thay vi chỉ đơn giản là sao chép lại
chúng. Sau đó, những nhà bán lẻ này đã tách phần mềm ra khỏi phần cứng bằng
cách khắc phục tình trạng không tương thích hệ thống, và phát triển những giải pháp để phần mềm có thể hoạt động
trên nhiều nhãn hiệu máy tính khác nhau. Khi kỉ nguyên cách mạng điện toán cá
nhân tới, lĩnh vực phần mềm có đủ tư cách trở thành một ngành công nghiệp riêng
biệt.
Tôi tin tưởng rằng
các phát minh sẽ trở thành lĩnh vực tiếp theo noi gương phần mềm: là tài sản
giá trị cao nhằm làm nền tảng cho các hình mẫu kinh doanh mới, các thị trường
thanh khoản và các chiến lược đầu tư. Thành công đáng kinh ngạc mà Intellectual Ventures có
được trong mười năm qua đã thuyết phục tôi rằng ngành kinh doanh các sáng chế,
cũng giống như phần mềm, sẽ vận hành tối ưu hơn nếu nó được tách biệt ra khỏi
quá trình sản xuất và được phát triển độc lập dựa trên một thị trường vốn hùng
hậu, nơi rót tiền tài trợ và kiếm lợi nhuận từ các phát minh.
Bài học chúng ta
rút ra được cho đến giờ gợi ý rằng một hệ thống cấp vốn phát minh hoàn thiện có
thể giải quyết được nhiều vấn đề đã từ lâu gây khó khăn cho cả những nhà sáng chế
lẫn người sử dụng các phát minh: đó là sự thiếu hụt vốn cho các nghiên cứu ứng
dụng; là một thị trường kết nối thiếu hiệu quả các công ty với những phát minh
họ cần và thị trường kiếm tiền thiếu hiệu quả từ những phát minh đó; là sự chia
rẽ giữa các nhà sáng chế và những phát minh để xử lí nhiều vấn đề to tát; là một
hệ thống thi hành và phân xử cho phép quá nhiều sự vi phạm diễn ra đồng thời,
cũng như dựa dẫm quá mức vào kiện tụng để xác định giá cả.
Công ty của tôi
– hiện đang là hãng cấp vốn phát minh kiểu mới lớn nhất – đang trên đà giải quyết
các vấn đề nêu trên. Vẫn còn sớm để nói được bất cứ điều gì nhưng tôi bị thuyết
phục rằng nếu chúng tôi và các hãng giống như chúng tôi đạt được thành công thì
hệ thống cấp vốn phát minh sẽ kích thích mạnh mẽ sự tiến bộ công nghệ, sản sinh
ra nhiều công ty mới hơn và sẽ làm thế giới trở nên tốt đẹp hơn.
Từ thiện thôi là chưa đủ
Hoa Kỳ đã dẫn đầu
thế giới về mảng phát minh sáng chế suốt thế kỉ 19, khi Eli Whitney, Robert
Fulton, Samuel Morse, Nicola Tesla, Alexander Graham Bell, Thomas Edison và nhiều
nhân vật khác đã làm biến chuyển đất nước này từ một nền kinh tế trồng trọt trở
thành cường quốc công nghiệp. Truyền thống đó vẫn còn tiếp tục cho đến ngày
nay. Người Mỹ nói chung nhìn nhận rằng tài sáng chế là một trong những lợi thế
cạnh tranh của đất nước mình. Họ hiểu rằng phát minh là một động lực mạnh mẽ
cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, việc phát minh lại nhận được sự quan tâm trực
tiếp cũng như số vốn tài trợ ít ỏi một cách đáng ngạc nhiên từ các nhà sản xuất
sản phẩm, các trường đại học hay chính quyền.
Ngoài ngành dược
và công nghệ sinh học ra thì rất ít công ty cân nhắc đến việc phát minh hoặc tạo
ra các sở hữu trí tuệ được cấp bằng, làm nhiệm vụ chính của họ. Bộ phận R&D
tại các doanh nghiệp hầu như đã trở thành 'D' : tập trung phát triển sản
phẩm. Hiếm có tập đoàn lớn nào có vị trí 'phát minh' (R) như một hạng mục công việc
– mặc dù nó yêu cầu một tư duy khác biệt, các mục tiêu khác nhau và phải được
quản lý bằng một cách khác so với vị trí
nghiên cứu và phát triển sản phẩm.
« Tôi bị thuyết phục
rằng môt hệ thống cấp vốn phát minh sẽ kích thích mạnh mẽ tiến bộ công nghệ và
sẽ làm thế giới trở nên tốt đẹp hơn. »
Tại các trường đại
học và các cơ quan chính phủ - nơi cấp vốn cho các nghiên cứu học thuật, bằng
sáng chế thường không nằm trong hạng mục cấp vốn hoặc những quyết định trợ cấp.
Nghiên cứu được công bố sẽ nhận thưởng. Tuy nhiên, các phát minh sáng chế thường
không được may mắn như vậy. Thực sự thì các cơ quan này chủ yếu chi tiền cho
các dự án bay bổng trên tận mây xanh để phục vụ việc mở rộng kiến thức khoa học
là chính. Điều đó cũng chính đáng thôi. Nhưng dù sao việc áp dụng kiến thức
khoa học vào thực tiễn theo một cách mới lạ nhằm tạo ra điều gì đó hữu ích,
mang lại giá trị kinh tế lại là việc hoàn toàn khác.
Việc các phát
minh bị xem ngang hàng như đứa con ghẻ được phản ánh trong cách thức chúng được
rót vốn. Tôi gọi cách thức này là một kiểu mẫu từ thiện. Những chủ thể cung cấp
phần lớn nguồn quỹ nghiên cứu cho các trường đại học Hoa Kỳ – chủ yếu là những
cơ quan chính phủ như Quỹ Khoa Học Quốc Gia, Viện Sức khoẻ Quốc gia, và Bộ Quốc
Phòng, cùng với các nhà quyên tặng cá nhân khác – làm vậy mà không đòi hỏi bất
cứ một đồng lời lãi nào. Nói cách khác, tiền trợ cấp nghiên cứu là những món
quà biếu chứ không phải là những khoản đầu tư.
Một nhóm nhỏ các
tập đoàn vẫn nuôi nguồn quỹ tài trợ những nghiên cứu dài hơi cũng có cùng tư
duy như vậy. Các lãnh đạo những tập doàn này hiếm khi nào khởi động các nghiên
cứu để tự chúng trở thành những dự án kinh doanh cả. Thay vào đó, họ chi tiền
cho các nghiên cứu này với niềm tin rằng những ý tưởng được tạo ra sẽ đem lại
những giá trị nhất định chắt lọc ra từ việc tổ chức sản xuất.
Kết quả của tư
tưởng làm từ thiện này là sự khan hiếm đầu tư từ khu vực tư nhân và sự phụ thuộc
quá đà vào nguồn quỹ của chính quyền. Điều này gây ra phiền phức ở mọi cấp độ.
Nó cho phép chính quyền liên bang, hơn là thị trường tiềm năng cho các sáng chế
mới, quyết định việc bao nhiêu tiền sẽ được đổ vào một lĩnh vực nhất định nào
đó. Lấy ví dụ, phần đóng góp của nguồn quỹ liên bang dành cho sức khoẻ căn bản
và khoa học vi sinh đã gia tăng đều đặn từ những năm 1950 cho đến khi chiếm nửa
tổng số vốn rót ra. Trong khi đó, phần đóng góp phân bổ cho các lĩnh vực sản xuất
một số lượng lớn hơn các phát minh màu mỡ - như vật lí và khoa học thông tin –
lại đang trên đà giảm.
Vấn đề thứ hai nằm
ở chỗ hầu hết nguồn quỹ của liên bang đều đổ về các chương trình nghiên cứu
truyền thống, loại tập trung vào những đơn ngành (Individual Disciplines).
Tuy nhiên những nhóm sáng tạo liên ngành (Cross-disciplinary teams) lại được trang bị tốt hơn để đi đến phương án giải quyết những vấn
đề đang ngày càng trở nên phức tạp mà thế giới phải đối mặt.
Vần đề cuối cùng
là nguồn quỹ của chính quyền thường không đáng tin cậy lắm. Theo Quỹ Khoa Học
Quốc Gia, chi tiêu liên bang cho nghiên cứu cơ bản lẫn nghiên cứu ứng dụng, đã
điều chỉnh theo chỉ số lạm phát, giảm 14% trong giai đoạn 2003-2007. Chính quyền
Obama đã cam kết đảo ngược đà giảm này, nhưng mức thâm hụt ngân sách tăng vọt của
liên bang sẽ khiến lời hứa khó mà duy trì được lâu.
Thay vì trông cậy
vào kiểu mẫu từ thiện này và sự lệ thuộc quá thể vào các nghiên cứu được chính
quyền tài trợ, chúng ta nên tìm cách thuần phục được sức mạnh tài chính ghê gớm
của khu vực tư nhân để hỗ trợ các sáng chế. Hãy cân nhắc điều này : Chi
tiêu công, đã được điều chỉnh theo chỉ số lạm phát, cho nghiên cứu học thuật
tăng 60% từ năm 1983 đến 2007. Trong khi đó, các khoản đầu tư trong lĩnh vực
kinh doanh bởi vốn đầu tư mạo hiểm và cổ phần tư nhân tăng vùn vụt lần lượt đạt
1,140% và 1,940%. Tổng cộng 1.6 nghìn tỷ đôla (theo thời giá 2008) đã được đầu
tư bởi nguồn vốn mạo hiểm và các công ty cổ phần tư nhân trong giai đoạn này, gấp
ba lần khoản tiền 537 tỉ đô la mà chính phủ Hoa Kì chi cho các nghiên cứu học
thuật.
Cách duy nhất mà
các sáng chế có thể thu hút được nguồn vốn tương tự từ khu vực đầu tư tư nhân
là hãy coi việc phát minh như một hình thức kinh doanh thu lợi nhuận. Để thực
hiện việc này đúng đắn, chúng ta cần một thị trường vốn hiệu quả được điều hành
bởi lực lượng nòng cốt gồm những người chuyên nghiệp. Tôi hoàn toàn chắc chắn rằng
nếu chúng ta thiết lập được một thị trường như thế thì hẳn các nhà đầu tư sẽ
kéo đến hàng đàn.
Để làm được điều
này sẽ chẳng mấy dễ dàng gì. Có một vài trở ngại đáng kể như : rủi ro cao
mà việc phát minh đem lại, sự xem thường quyền sở hữu trí tuệ hiện đang thịnh
hành tại một vài ngành công nghiệp và ở một số quốc gia nhất định, nhu cầu đòi
hỏi nhiều chuyên gia hơn nữa trong ngành công nghiệp cấp vốn phát minh, và tình
trạng vô tổ chức của thế giới các sáng chế. Chúng ta cũng phải đối mặt với tình
huống khó nhằn của câu đố con gà – hay quả trứng có trước : Lợi nhuận phải
được kiếm một cách hiệu quả từ những phát minh để có thể thu hút các nhà đầu
tư, song để tổ chức được một thị trường như thế thì phải cần sự thanh khoản mà
chỉ những nhà đầu tư mới có thể cung cấp nổi. Những trở ngại này có thể vượt
qua được. Cách làm như sau.
Đọc kỳ 2 tại: http://www.thekeynesian.com/2015/04/nganh-cong-nghiep-cap-von-o-hoa-ky_62.html
Đọc kỳ 3 tại: http://www.thekeynesian.com/2015/04/nganh-cong-nghiep-cap-von-o-hoa-ky_16.html
Đọc kỳ 3 tại: http://www.thekeynesian.com/2015/04/nganh-cong-nghiep-cap-von-o-hoa-ky_16.html
.jpg)
0 Response to "NGÀNH CÔNG NGHIỆP CẤP VỐN Ở HOA KỲ - Nathan Myhrvold - Kỳ 1"
Đăng nhận xét