TRIỂN VỌNG VÀ HIỂM HỌA TỪ TÌNH TRẠNG PHỤC HỒI Ở NGA - Kỳ 1


Chính phủ do Putin cầm quyền đã cứu nguy cho chủ nghĩa tư bản, nhưng mối đe dọa lớn nhất đối với hoạt động kinh doanh là sự khao khát tập trung quyền lực đang dần trở lại ở điện Kremlin.
Tại Quảng trường thượng viện Saint Peterburg có đặt bức tượng Peter vĩ đại, quay mặt về phía bắc. Trên một phiến đá granite lớn màu đỏ có hình một vách đá, chân sau của con ngựa mà Nga hoàng cưỡi đạp lên một con rắn, tượng trưng cho những người phản đối cuộc cải cách của Peter và các kẻ thù của ông. Hơn 200 năm sau ngày khánh thành, bức tượng kỹ sĩ bằng đồng giờ đây lại có thể là biểu tượng cho một nhà lãnh đạo cải cách khác là Vladimur Putin và những thách thức mà nước Nga đang đối mặt.
Sau khi Putin trở thành tổng thống Nga vào năm 2000, Goldman Sachs đã đưa ra dự báo rằng Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc sẽ sớm trở thành những nền kinh tế trọng điểm của thế giới và tạo ra thời kỳ BRIC. Tuy nhiên, sự tăng tưởng kinh tế của Nga, sau khi đạt mức tăng trưởng mạnh trung bình 7% từ năm 1998 đến năm 2007, đã bị suy yếu dần bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Theo OECD, kinh tế Nga được dự báo sẽ giảm 6,8% vào năm 2009 và Brazil là 0.8%, trong khi Ấn Độ và Trung Quốc được dự đoán sẽ có mức tăng trưởng lần lượt là 5.9% và 7.7% bất chấp sự suy thoái toàn cầu.
Liệu nước Nga có đứng trước nguy cơ bị loại bỏ khỏi nhóm BRIC? Liệu các công ty liệu có thể khởi sắc hơn khi thâm nhập vào các thị trường mới nổi khác, đặc biệt là bản chất phức tạp vốn có khi hoạt động kinh doanh ở Nga. Làm thế nào để các công ty có thể tận dụng chính sách của Nga để thành công?

Tôi đã nghiên cứu về chính trị và kinh tế Nga trong hơn 15 năm. Trong suốt khoảng thời gian hơn mười năm, Putin lãnh đạo đất nước với cương vị tổng thống hay thủ tướng, ông đều ra sức củng cố thể chế và nền kinh tế tư bản còn non trẻ của Nga. Tuy nhiên, trong quá trình đó, ông cũng đã dấy lên khao khát quyền lực dường như vô hạn ở điện Kremlin. Tôi tin rằng đó là một mối nguy hiểm đang bành trướng không chỉ đối với sự phát triển của nước Nga mà còn với các doanh nghiệp đang muốn kinh doanh tại đây. Thay vì chỉ tập trung một cách phiến diện vào tỉ lệ tăng trưởng, các CEO nên tiến tới am hiểu về chế độ tư bản đang tiến triển ở Nga, đặc biệt là mối quan hệ căng thẳng giữa nhà nước và doanh nghiệp, để tận dụng được mặt hiệu quả của chính sách Nga. Ở các trang sau đây, tôi sẽ giải thích rõ hơn tại sao điều đó lại quan trọng và sẽ đưa ra ba tình huống để minh họa cho vai trò trung tâm của nhà nước Nga đối với hoạt động kinh doanh.

Sự hấp dẫn của thị trường Nga

Năng lực kinh tế của Nga không còn suy yếu như giai đoạn những năm đầu 1990, nhưng nó cũng không tăng theo kiểu như của Trung Quốc và Ấn Độ. Đó là bởi vì, không giống như những quốc gia cùng nhóm, Nga bị buộc phụ thuộc vào các mặt hàng xuất khẩu như dầu mỏ và khí gas tự nhiên, những thứ có giá trị không ổn định. Ví dụ, vào khoảng giữa năm 2007 và 2009 giá dầu có sự biến động lớn, đang từ mức giá cao là 132.55 đô la một thùng vào tháng 7 thì đến tháng 12 đã ở mức giá thấp là 41.53 đô la một thùng vào năm 2008, trước khi mức giá leo thang đến 70 đô la vào tháng 10 năm 2009. Nga đã tận dụng lợi thế trong thời điểm giá cao để củng cố nguồn tài chính, nhưng tỉ lệ tăng trưởng tụt nhanh trong thời gian gần đây, như đã đề cập ở trên. Giá năng lượng cũng như tốc độ tăng trưởng của Nga trong tương lai sẽ còn chịu nhiều bất ổn.

Tuy nhiên, nếu nền kinh tế thế giới bắt đầu tăng trưởng trở lại vào năm 2010, thì Nga có thể không cần phải lo lắng về các vấn đề bên ngoài. Giá dầu có thể sẽ tăng đến mức ổn định khoảng hơn 80 đô la, và sự tăng giá của đồng đô la dầu mỏ có thể sẽ vực dậy nền kinh tế. Đặc biệt là các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp năng lượng – có trụ sở ở châu Âu, nơi mà chắc chắn sẽ còn tiếp tục nhập khẩu khí gas của Nga trong vài thập kỷ tới đây – sẽ không  có sự lựa chọn nào khác ngoài việc bỏ tiền đầu tư vào cho nước Nga. Dòng vốn đổ vào đã đạt ngưỡng 80 tỷ đô la vào năm 2008 (một phần tư trong số đó là nguồn đầu tư nước ngoài, còn lại là các khoản nợ và các danh mục vốn đầu tư) và sẽ còn gia tăng.

Những kẻ mới phất ở Nga thường sẽ lại tranh giành những sản phẩm xa xỉ có xuất xứ từ châu Âu, và cùng với sự gia tăng lượng công ăn việc làm, các doanh nghiệp đang cung cấp những sản phẩm ở tầm trung sẽ tìm được hàng triệu khách hàng nhiệt thành với mức thu nhập trung bình khoảng 16,000 đô la (tùy thuộc vào năng lực mua sắm của từng khu vực). Cơ sở hạ tầng của Nga đang cần được hiện đại hóa, vì vậy chi tiêu của chính phủ cũng đã tăng lên trong những năm gần đây, và để phục vụ cho những mục đích chính trị nên nó cũng không thể bị cắt giảm trong một sớm một chiều được. Chính phủ đã phát hành một lượng tiền lớn khi nền kinh tế đang hồi phục một cách chậm chạp, nhưng có lẽ còn nhanh hơn nền kinh tế Mỹ.

Quá khứ như khúc dạo đầu

Kịch bản này có thể thu hút các doanh nghiệp đổ vào Nga. Nhưng các CEO nếu không nhận thức được đầy đủ việc chủ nghĩa tư bản đã bén rễ như thế nào trong những năm 1990 thì sẽ không thể thành công được.

Nước Nga là quê hương của hai cuộc thử nghiệm mang tính xã hội vĩ đại nhất của thế kỷ 20. Đầu tiên là việc thành lập nên một nhà nước xã hội chủ nghĩa, bắt đầu vào năm 1917 và đã sụp đổ vào tháng 12 năm 1991. Thứ hai là những nỗ lực ban đầu của Nga trong việc phát triển chế độ dân chủ tư bản, rồi cũng gặp phải thất bại tương tự. Vào khoảng giữa năm 1991 và 1999, sản lượng của Nga sụt giảm gần 50%. Chính sách phi công nghiệp hóa đã gia tăng sự phụ thuộc của quốc gia vào việc xuất khẩu dầu mỏ và khí gas tự nhiên với mức giá trao đổi thấp thảm hại trong suốt những năm 1990. Chính quyền trung ương không thể thực hiện được những chức năng như bảo hộ tài sản, thực thi các điều luật và các hợp đồng, duy trì hệ thống tiền tệ, thu các loại thuế và cung cấp hàng hóa công cộng. Chính quyền địa phương sẽ giữ phần thuế họ thu được và có thể phát hành các loại tiền địa phương nếu thấy phù hợp.

Đỉnh điểm của sự thất bại này là sự tư hữu hóa, đăc biệt với dầu mỏ, khí ga và các tài nguyên khoáng sản khác ở Nga, và đã tạo nên một nhóm nhỏ những người cực kỳ giàu có và có tầm ảnh hưởng cá nhân rộng lớn. Những kẻ đầu sỏ chính trị này (oligarchs) là những doanh nhân tài ba, đã biết lợi dụng tình trạng suy thoái và sống dựa trên những điều luật do chính họ bỏ tiền ra thuê các nhà chính trị gia viết. Khi luật pháp và tòa án không làm tròn được chức trách, các công ty buộc phải giải quyết các tranh chấp bằng các chuyển sang cái mà nhà xã hội học người Nga gọi là “các chi nhánh kinh doanh bạo động” hay thực thi luật pháp riêng. Hơn một nửa dân số đang nằm dưới ngưỡng nghèo. Tính đến tháng 8 năm 1998, vòng xoáy theo chiều hướng đi xuống đến cực điểm khi chính phủ Nga không thể chi trả các khoản nợ trong nước, đồng Rúp bị mất giá và Nga buộc phải áp đặt các lệnh hoãn đối với việc trả các khoản nợ tư nhân nước ngoài. Vào thời gian đó, người dân Nga đều liên tưởng chế độ dân chủ và chủ nghĩa tư bản với sự nghèo khổ. Ai có thể đổ lỗi cho họ khi tự hỏi liệu thể chế chính trị và kinh tế mới có tạo được sự hưng thịnh cho đất nước?

Với những nhân vật chóp bu trong giới chính trị Nga, những gì đã trải qua đã làm bẽ bàng và để lại một vết nhơ sâu sắc, và nó đã để lại một vết sẹo tương đối sâu. Khi Putin đắc cử tổng thống vào tháng 3 năm 2000, những thập kỷ đầy đau thương trước đó đã khiến ông không ngại ngần khi cho rằng tất cả các vấn đề nước Nga đang gặp phải đều xuất phát từ sự yếu kém của nhà nước. Năng lực của chính phủ trong việc thực hiện các nhiệm vụ của mình là phải gia tăng thúc đẩy phát triển kinh tế. Vài tháng trước đó, ông đã bày tỏ sự thất vọng trong một bức thư ngỏ: “Anh không thể chắc chắn sự ổn định với doanh nghiệp của mình vì anh còn phải phụ thuộc vào hiệu lực của luật pháp hay sự trung thực của chính quyền. Vì vậy anh cảm thấy không thỏa mãn với các dịch vụ mà nhà nước cung cấp và anh từ chối đóng tất cả các loại thuế đúng hạn. Hơn nữa, anh vẫn có thể sống tương đối thoải mái dù làm những việc này. Nhà nước thì không thể thu được khoản ngân sách đủ để giữ cho hệ thống tư pháp được hoạt động công bằng, công nhân viên chức nhận lương thấp và họ sẽ nhận hối lộ. Kết quả lại là một vòng tròn luẩn quẩn.”

Tuy Putin tập trung chủ yếu vào việc xây dựng lại quyền lực nhà nước nhưng không có nghĩa là ông muốn ngăn cản sự phát triển của hệ thống thị trường hay việc đưa Nga hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Ông muốn củng cố lại nhà nước để khẳng định rằng chủ nghĩa tư bản được bén rễ từ nước Nga. Trong suốt 8 năm đương nhiệm tổng thống, Putin đã làm mọi thứ có thể để tăng cường quyền lực của điện Kremlin. Ông bổ nhiệm những vị trí quản lý bằng những người ông thực sự tin tưởng từ những ngày ông còn làm trong KGB và chính quyền thành phố Saint Petersburg, và ông cũng thiết lập các chính sách gia tăng quyền lực trung ương bằng chi phí của các địa phương.

Putin phân bổ lại mối quan hệ của nhà nước với những kẻ đầu sỏ chính trị (oligarchs), ép buộc một vài người, ví dụ như Boris Berozovsky, phải tự đi đày ải, và đưa một số người khác, đặc biệt là Mikhail Khodorkovsky vào tù. Các oligarch khác nhanh chóng nhận được bài học từ ba nguyên tắc của Putin: Không dính dáng đến chính trị, không mua chuộc chính trị gia và đóng thuế đầy đủ. Putin đã thiết lập nên một chính phủ vẫn có thể hoạt động mà không cần đến sự can thiệp của những kẻ đầu sỏ chính trị, nhưng ông không hề đặt những người giàu ra ngoài vòng pháp luật hay thủ tiêu ý chí làm giàu. Trong khi nhà nước đã giành được quyền kiểm soát được một số công ty thuộc các ngành công nghiệp chiến lược, như năng lượng và vũ khí quân sự - Gazprom giành được Sibneft từ tay Roman Abramovich, mặc dù với mức giá phải trả tương đối đắt; và sau cuộc chiến pháp lý gay gắt, Rosneft đã thôn tính các đơn vị sản xuất dầu mỏ của Khodorkovsky’s Yukos – những lo ngại về một chiến dịch dốc toàn lực lượng chống lại các doanh nghiệp lớn được chứng minh là vô căn cứ.

Trong suốt hai nhiệm kỳ của mình, nhờ sự gia tăng mức giá chung trên toàn cầu, Putin đã đạt được một số thành tựu như tăng trưởng kinh tế cao và thặng dư ngân sách trong nhiều năm. Công tác thu thuế đã được cải thiện đáng kể từ sau cuộc cải cách năm 2002, nghĩa vụ của người nộp thuế cũng được giảm nhẹ và đơn giản hóa. Chính phủ đang theo đuổi chính sách tài chính bảo thủ và từ năm 2004, một phần lợi nhuận từ việc xuất khẩu năng lượng được chuyển vào quỹ bình ổn, nhằm hỗ trợ cho hệ thống tài chính quốc gia khi gặp rủi ro giá giảm.

 Có một sự tương phản rõ rệt giữa những phương cách mà chính phủ Nga giải quyết khủng hoảng vào năm 1998 và 2008. Khi cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra gần đây, chính phủ đã sử dụng quỹ bình ổn để ngăn chặn sự mất giá mạnh của đồng Rúp, tung ra gói kích thích tài chính trị giá 200 tỷ đô la để chống suy thoái kinh tế và nạn thất nghiệp; bơm tiền vào hệ thống ngân hàng thông qua các ngân hàng nhà nước, và giải cứu một số doanh nghiệp quan trọng. (Có vẻ quen thuộc phải không?) Chính phủ Nga đã không thể thực hiện bất kỳ điều nào trong số này vào năm 1998 bởi vì nhà nước sau đó rơi vào tình trạng nợ ngập đầu, không có khoản tiền dự trữ, không có thặng dư ngân sách và không có khả năng tăng doanh thu. Cuộc khủng hoảng hiện tại đã và đang đảo lộn nền kinh tế toàn cầu, nhưng tác động của nó đã phần nào được giảm nhẹ nhờ sự điều tiết nền kinh tế vĩ mô một cách khôn ngoan trong 8 năm bởi Moscow.

Chức năng thông thường của chính phủ cũng đã được cải thiện. Một vài trong số đó là tình trạng tài chính tốt của chính phủ. Những viên chức nhà nước nhận tiền lương đều đặn vẫn có thể không chống nổi sự cám dỗ, nhưng những người không nhận được một chút tiền công nào thì họ không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc nhận hối lộ. Tham nhũng sẽ còn tiếp tục là vấn nạn lớn, nhưng những gì đang diễn ra ngày hôm nay lại dễ kiểm soát hơn so với thực tiễn ngày bão táp những năm 1990. Người kế nhiệm do chính Putin lựa chọn cẩn thận, tổng thống Dmitry Medvedev, đã nhắc đến nhiều lần rằng việc khắc phục nạn tham nhũng là một trong những ưu tiên hàng đầu của ông, và ông cũng đang cố gắng thiết lập những cơ quan hợp pháp để chống nạn tống tiền. Medvedev thường nói: “Tham nhũng không đơn giản là bất hợp pháp. Nó còn phi đạo đức.” Mục tiêu của ông là thay đổi quan điểm xã hội, công việc đòi hỏi sự kiên trì và nhẫn nại.






(Còn tiếp)

0 Response to "TRIỂN VỌNG VÀ HIỂM HỌA TỪ TÌNH TRẠNG PHỤC HỒI Ở NGA - Kỳ 1"

Đăng nhận xét

Xem nhiều nhất

Xem nhiều nhất trong tháng