NGÀNH CÔNG NGHIỆP CẤP VỐN Ở HOA KỲ - Nathan Myhrvold - Kỳ 2


Những người hay công kích tôi là một tay đầu cơ bản quyền sáng chế thường thuộc các nhóm lợi ích đặc biệt. Những người này cảm thấy họ chẳng việc gì phải tôn trọng sáng chế của người khác. Tại một hội nghị kinh doanh diễn ra gần đây, giám đốc điều hành của một hãng công nghệ lớn mà tôi biết khá rõ đã nói với tôi rằng, “Vậy tôi đoán là anh đang tính kiện tôi hả?”
Làm sao để quản lí được các Rủi Ro

Không thể phủ nhận rằng thách thức lớn trong việc thu hút các nhà đầu tư chính là yếu tố rủi ro cao nằm ở bản thân những sáng chế. Đa số các phát minh đều đi đến thất bại: Có nhiều phát minh chẳng có tác dụng gì. Đó là sự thật khó có thể chối bỏ. Một vài phát minh khác hữu dụng nhưng chi phí chế tạo lại quá đắt đỏ. Tuy vẫn có những phát minh giá rẻ mang lại hiệu quả tuyệt vời nhưng lại bị thay thế bởi các sáng chế thậm chí còn tối ưu hơn. 

Các thống kê trên rủi ro thật sự của việc đầu tư vào các sáng chế này tỏ ra khá sơ sài. Song các báo cáo của chính quyền gợi ý rằng chỉ từ 1% đến 3% các loại bằng sáng chế thực sự đem về lợi nhuận cho những nhà phát minh. Các tập đoàn lớn cũng có tỉ lệ thành công tương tự.

May thay, các ngành kinh doanh khác đã tìm được hướng xoay sở với rủi ro cao như vậy. Các công ty bảo hiểm giảm bớt rủi ro bằng cách tập hợp nhiều hợp đồng bảo hiểm lại thành những danh mục lớn. Họ cũng phân bổ rủi ro bằng cách trải rộng nó ra khắp thị trường tái bảo hiểm – hiện đang phát triển rất tốt. Quỹ lương hưu, quỹ tương hỗ và các hình thức chung vốn đầu tư khác đã tạo nên nhiều loại hình tài sản mà rất nhiều nhà đầu tư cùng góp tiền vào.

Chúng ta có thể áp dụng cách tiếp cận này để quản lí rủi ro vốn nằm cố hữu trong các sáng chế mới. Thông thường một phát minh đơn lẻ có rủi ro rất lớn. Tuy nhiên, nếu xây dựng được (như cách công ty tôi đã làm) một danh mục đầu tư phong phú bao gồm hàng chục nghìn các sáng chế trải rộng trên nhiều lĩnh vực công nghệ khác nhau thì tổng rủi ro có thể nằm trong tầm kiểm soát.

Dĩ nhiên là việc xây dựng nên các danh mục đầu tư kiểu đó sẽ tiêu tốn rất nhiều tiền, nhưng không nhiều đến mức chưa có tiền lệ. Các quỹ đầu tư mạo hiểm và các công ty cổ phần tư nhân đều đặn kêu gọi số vốn lên tới hàng trăm triệu thậm chí là hàng tỉ đô la chỉ dành duy nhất cho một quỹ đầu tư. Những quỹ tầm cỡ tương tự như thế dành cho các sáng chế sẽ đủ khả năng cung cấp một quy mô cần thiết để cô lập các rủi ro.

Quy mô lớn như vậy còn tạo ra một yếu tố quan trọng khác: đó là tiềm năng hướng thượng. Trong một số phát minh thành công thì sẽ có một vài phát minh thuộc dạng bom tấn. Thậm chí, nếu chỉ một sáng chế thực sự thành công trong một danh mục đầu tư, giả sử bao gồm khoảng 2000 sáng chế khác, thì doanh thu đạt được có thể lên đến 1 tỉ đô la. Số tiền thu về này sẽ lớn gấp nhiều lần tổng chi phí dành cả một danh mục đầu tư hoàn chỉnh.

Có hàng tá những điển hình trong thế giới thực để chứng minh nguyên tắc trên. Qualcomm, một công ty đại chúng có giá trị 70 tỉ đô la sở hữu các tài sản cốt lõi là một danh mục đầu tư bằng sáng chế với số lượng, tuy không quá khủng khiếp, nhưng rất đáng nể. Tiền lãi hàng năm của tập đoàn MPEG-LA, chủ sở hữu nhiều bằng sáng chế về công nghệ được sử dụng trong các đầu phát DVD và nhiều thiết bị giải mã tín hiệu truyền hình theo báo cáo đã vượt mức 1 tỉ đô la. Hơn 1 tỉ đôla mỗi năm cũng là số tiền được đồn đoán rằng IBM thu về từ việc cấp phép sử dụng các sáng chế của họ. Cũng có tin doanh thu ròng mỗi năm từ các chương trình tương tự ở Hewlett-Packard, Lucent, Texas Instruments và một vài các tập đoàn công nghệ sừng sỏ khác đều vượt mức 100 triệu đô la.

Có sự khác biệt rõ ràng giữa việc đầu tư vào các quỹ cấp vốn cho sáng chế và việc đầu tư vào các quỹ mạo hiểm và quỹ cổ phần tư nhân: giới hạn thời gian kiếm tiền từ các phát minh sẽ lâu hơn nhiều. Quỹ VC hay PE điển hình tồn tại khoảng 10 năm và thường thu về lợi nhuận đáng kể cho những nhà đầu tư vào chúng trong vòng 5 năm đầu. Quỹ cấp vốn phát minh đòi hỏi gấp nhiều lần lòng kiên nhẫn của các nhà đầu tư. Giả sử mỗi khi Intellectual Ventures lập nên một quỹ, chúng tôi thêm vào danh mục đầu tư của quỹ đó các bằng sáng chế trong suốt 5 năm đầu và sẽ tiếp tục cấp phép sử dụng chúng trong vòng 25 năm cho đến khi tất cả các bằng sáng chế đó hết hạn.  

Liệu có những nhà đầu tư nào kiên nhẫn được chừng ấy? Theo kinh nghiệm của chúng tôi thì câu trả lời là có. Chúng tôi nhận thấy có 2 kiểu nhà đầu tư khác biệt rõ rệt trong số rất nhiều những người khác. Họ đã cấp hơn 5 tỉ đôla tiền vốn cho 4 quỹ và một công ty khởi nghiệp chúng tôi gây dựng từ năm 2000. Kiểu nhà đầu tư thứ nhất nhìn nhận vốn cho các sáng chế đơn giản như một khoản đầu tư tài chính dự phòng tương tự như phái sinh, quỹ đầu cơ, cổ phần tư nhân và bất động sản. Những đơn vị đầu tư truyền thống này bao gồm quỹ lương hưu, trường đại học, tổ chức từ thiện, các gia đình giàu có và nhiều cá nhân khác.

Trong động thái trái ngược, những khoản đầu tư trong lĩnh vực kinh doanh bởi VC và các ngành công nghiệp cổ phần tư nhân tăng mạnh lần lượt theo mức 1,140% và 1,940%.

Chúng tôi gọi kiểu nhà đầu tư thứ hai là những nhà đầu tư chiến lược bởi cái họ tìm kiếm không chỉ là những khoản lợi nhuận trực tiếp thông thường. Những thành viên của nhóm này – bao gồm các công ty Fortune 500 và nhiều công ty dẫn đầu thị trường trong lĩnh vực công nghệ cao, viễn thông, dịch vụ tài chính, điện tử tiêu dùng và thương mại điện tử; bị thu hút bởi triển vọng được thâm nhập vào mạng lưới các nhà phát minh tài năng của Intellectual Ventures. Những nhà đầu tư này kiếm sự giúp đỡ trong việc bột phát nên các ý tưởng làm thay đổi cuộc chơi, hoặc họ muốn được cấp phép sử dụng sớm các bằng sáng chế ở trong danh mục của chúng tôi. Việc tập hợp lại các bằng sáng chế trong một lĩnh vực cụ thể của Intellectual Ventures cung cấp cho các nhà đầu tư chiến lược dịch vụ một cửa hiệu quả.

Hãy dành sự tôn trọng cho các bằng sáng chế

Tuy nhiên, rào cản chính cho sự nổi lên của một thị trường lòng tin dành cho các sáng chế và và một ngành công nghiệp cấp vốn phát minh mạnh mẽ, sôi động lại không nằm ở vấn đề tài chính. Đó là rào cản về văn hoá.

Ở các quốc gia giàu có, nhiều công ty sản xuất sản phẩm thường xuyên coi các nhà phát minh và những cá nhân, tổ chức sở hữu bằng sáng chế khác như một mối hoạ và ngược lại. Nhưng thực tế thì các công ty này nên coi những nhà phát minh như những suối nguồn sáng tạo và đặt đủ lòng tin vào họ - và cả vào những nhà tư bản cấp vốn cho phát minh nữa – để cho họ biết loại công nghệ mà công ty mình cần là gì. Về phần những nhà phát minh, họ nên xem các nhà sản xuất và các nhà tư bản cấp vốn như những khách hàng và cũng nên tin tưởng rằng những người này sẵn sàng trả một mức giá hợp lí cho các ý tưởng họ muốn sử dụng. Chúng tôi khao khát trở thành nhà trung gian đáng tin cậy để biến điều đó trở thành sự thật.

Ngăn trở về văn hoá có chút khác biệt ở các nền kinh tế đang lên ví dụ như những trung tâm công nghệ ở Châu Á. Ở khu vực đó, quyền đăng kí bằng sáng chế và những sở hữu vô hình khác rất hay bị làm lơ. So với các trường đại học ở Hoa Kì thì ở Châu Á, có quá ít các trường đại học danh tiếng đệ trình đơn cấp bằng sáng chế. Và khi sáng tạo trí tuệ của họ bị các nhà sản xuất trong nước chiếm đoạt mà không mất một xu bồi thường nào, họ cũng chẳng buồn phàn nàn. Chúng tôi hi vọng sẽ shứng minh cho những nhà lãnh đạo ở các khu vực này thấy rằng, sự quan tâm thấu đáo hơn đến quyền sở hữu trí tuệ sẽ lập tức mang lại những lợi ích kinh tế to lớn và đồng thời cũng tạo ra nhiều công nghệ mới có giá trị.

Chúng tôi hoàn toàn không ảo tưởng rằng chuyện đạt được những thay đổi về văn hoá này sẽ dễ dàng gì. Kể cả tại Hoa Kì, việc xem thường các bằng sáng chế đã ăn sâu, bám rễ vào nhiều khía cạnh của các ngành công nghiệp. Dù việc tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ là nền tảng cho nhiều ngành công nghệ cao, ví dụ như các thương hiệu dược phẩm, công nghệ sinh học, trang thiết bị y tế và công nghệ không dây; nhưng đáng buồn thay, sự lại không được như ý ở những ngành công nghiệp khác. Điển hình là ngành phần mềm, điện toán và các ngành khác liên quan đến Internet. Trong các ngành công nghiệp mà “kẻ được ăn cả” thế này thì áp lực cạnh tranh đè lên các công ty còn non trẻ là cực kì lớn. Áp lực này buộc các công ty mới phải mở rộng thị phần của mình bằng mọi biện pháp cần thiết kể cả sao chép ý tưởng từ những công ty khác. Đến tận giờ phút này, nhiều doanh nghiệp phần mềm và Internet vẫn có cái nhìn rất thiển cận rằng việc “tiết kiệm” tiền dành cho việc xin cấp phép sử dụng bằng sáng chế (bằng việc vi phạm) là tốt; bởi số vốn đó sẽ được chi cho việc bành trướng công ty.

Không giúp cải thiện tình hình thì thôi, một số hãng công nghệ phần cứng lớn còn coi bằng sáng chế như những vũ khí phòng thủ hữu hiệu để sử dụng trả đũa bất cứ công ty đối thủ nào dám kiện họ vì vi phạm bản quyền. Chiến thuật phá hoại đôi bên này thường tự nó biến thành việc cấp phép chéo hoặc đơn giản là đi vào ngõ cụt. Tuy nhiên, hiệu ứng mang lại cũng chẳng tốt đẹp gì lắm: nó nuôi dưỡng suy nghĩ coi khinh các nhà sáng chế. Và bởi các trường đại học và nhiều nhà phát minh độc lập không có đủ thực lực nên họ đã bị các công ty thẳng tay đè bẹp trong trò chơi này. Nói chung, những hành vi như thế có xu hướng ngăn cản các nhà sáng chế làm việc trong các ngành công nghiệp và làm nghèo nàn đi hệ thống phát minh của chúng ta.

Việc xây dựng nên một danh mục đầu tư các sáng chế sẽ tiêu tốn rất nhiều tiền, nhưng số tiền này không lớn đến mức chưa có tiền lệ. Các hãng VC đều đặn gọi hàng vài tỉ đôla vốn chỉ dành cho một quỹ duy nhất.
Chúng tôi đề nghị các bác sĩ phác thảo một danh sách những điều ước về công nghệ “sẽ chẳng phải tuyệt sao nếu có…” cho đội ngũ nhà phát minh của chúng tôi.

Những người hay công kích tôi là một tay đầu cơ bản quyền sáng chế thường thuộc các nhóm lợi ích đặc biệt. Những người này cảm thấy họ chẳng việc gì phải tôn trọng sáng chế của người khác. Tại một hội nghị kinh doanh diễn ra gần đây, giám đốc điều hành của một hãng công nghệ lớn mà tôi biết khá rõ đã nói với tôi rằng, “Vậy tôi đoán là anh đang tính kiện tôi hả?”

Tôi đáp lại, “Ồ không. Nhưng mà sao anh lại hỏi vậy? Anh muốn hỏi đểu tôi chắc?”
Anh ta cười ngặt nghẽo và nói rằng “Đúng, có lẽ là thế.”

Điều buồn cười ở đây là chúng tôi chưa từng kiện ai ra toà để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của chúng tôi cả. Tôi nhận thấy đó là giải pháp không mong muốn bởi nhiều lí do: chi phí đắt đỏ, không dự đoán được và mỗi vụ kiện có thể kéo dài nhiều năm.
Vẫn luôn có những cá nhân và tổ chức cảm thấy bị đe doạ bởi sự thay đổi. Họ phản đối ầm ĩ lên bằng cách reo rắc nỗi sợ hãi và những tiên đoán dối trá về sự diệt vong. Chúng ta đều đã từng chứng kiến những điều như vậy rồi. Ngày xửa ngày xưa, những nhà đầu tư mạo hiểm bị gán cho cái tên “lũ tư bản kền kền” bởi họ tước đoạt các công ty khỏi tay những nhà sáng lập ra chúng. Những công ty đầu tư tư nhân đầu tiên bị vu là “lũ man rợ” và “bọn dã thú” bởi họ đe doạ đến sự thoải mái, dễ chịu đến từ lối quản trị kém hiệu quả ở các tập đoàn. Theo thời gian, cả hai nhóm này đã được thế giới công nhận là các thế lực tích cực trong nền kinh tế. Và các nhà đầu tư sáng chế cũng sẽ như vậy.

Có nhiều dấu hiệu chứng tỏ điều đó đang xảy ra:
·      Số lượng các vụ kiện cáo về việc vi phạm bản quyền sáng chế tại Hoa Kì đạt đỉnh vào năm 2004 và giảm dần từ đó. Bởi các công ty cấp vốn phát minh đã đơn giản hoá đi việc chi trả các nhà sáng chế cho những phát minh của họ. Đồng thời họ cũng tạo điều kiện cho các công ty làm giảm thiểu rủi ro về tranh chấp và thâu tóm quyền kiểm soát với hàng chồng những phát minh hữu dụng. Vậy nên những vụ kiện cáo sẽ còn giảm mạnh nữa.

·      Các công ty công nghệ thông tin, vốn ngày xưa không bận tâm mấy đến việc xin cấp bằng sáng chế cho nhiều phát minh của mình, giờ đây đang đệ đơn xin cấp mỗi năm một nhiều. (Microsoft hiện là một trong những tập đoàn đưa đơn nhiều nhất thế giới.)
·       Nhiều công ty công nghệ đang bắt đầu tìm đến chúng tôi vì những phát minh có thể giúp họ giải quyết các vấn đề cấp thiết.
     
Vì những lí do này nên tôi không hề bận tâm đến cái gọi là xu hướng cải cách bản quyền hiện nay ở Hoa Kì có cản trở nghiêm trọng đến tiến trình của chúng tôi hay không. Một nhóm vận động hành lang cho các tập đoàn công nghệ lớn hiện đang nỗ lực nuôi hy vọng làm suy yếu quyền bản quyền. Bởi họ coi bản quyền sáng chế chủ yếu là một món nợ. Nhưng ở bên kia chiến tuyến –nơi các công ty dựa vào bằng sáng chế như các tài sản nền tảng của họ điển hình là General Electric, Procter & Gamble, 3M, 3 DuPont và Caterpillar tụ họp; đang chống trả lại quyết liệt. Nhìn chung, các toà án hiện nay đã bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và Quốc hội cũng hành động theo khuynh hướng tán thành điều đó. Dẫn đến việc thực hiện một số cải cách cần thiết những vẫn không làm suy yếu tổng thể hệ thống bản quyền sáng chế.

Xây dựng nên một ngành kinh doanh chuyên nghiệp

Trở ngại khác trong việc kiến tạo nên thị trường vốn bền vững cho các sáng chế là một điều mà mọi hệ thống phức tạp đều phải đối mặt lúc mới triển khai: nhu cầu giành giật được số đông then chốt các “tay chơi” chính trên thị trường. Thị trường hiện tại dành cho các sáng chế đang thiếu tính thanh khoản, thiếu minh bạch và đầy rối loạn. Một vài công ty – “tay chơi” hiện tại; từ các hãng phát triển công nghệ, nhà môi giới và các đại lý đến quỹ đầu tư, các nhà đấu giá và sở giao dịch chuyên về lĩnh vực sở hữu trí tuệ - đang vận hàng ở quy mô lớn. Thành thật mà nói thì chất lượng công việc, sản phẩm của họ chênh lệch nhau vô cùng nhiều.

Vì chúng tôi và những công ty khác cung cấp một số lượng nhất định các chuyên gia, nhiều tính thanh khoản hơn, giá cả rõ ràng hơn và một bộ tuỳ chọn tốt hơn dành cho các nhà sáng chế và cho những người sử dụng; nên chúng tôi tin tưởng rằng thị trường sẽ đi vào đúng quỹ đạo và phát triển nhanh chóng sau đó. Thực sự việc chúng tôi thâu tóm các bản quyền sáng chế đã châm ngòi cho sự gia tăng đáng kể số lượng các nhà môi giới bản quyền trên thị trường. Cùng lúc, các công ty mới sẽ tràn vào lấp đầy nhiều khoảng trống của hệ sinh thái các sáng chế. Chúng ta sẽ xem xét một ngành công nghiệp sáng chế phức tạp hơn và hiệu quả hơn, nơi đầy rẫy những nhà tìm kiếm và đóng gói (packager?!) bản quyền phát minh chuyên nghiệp, nhà thẩm định và kí nhận thanh toán, chuyên gia tài chính và các đại lý bán hàng – cùng các vai trò khác chưa xác định được.

Về phía chúng tôi, Intellectual Ventures có mục tiêu trở thành hãng dịch vụ cung vốn phát minh trọn gói đầu tiên. Cũng giống như các quỹ vốn đầu tư mạo hiểm và công ty cổ phần tư nhân, chúng tôi gọi vốn từ nhiều nhà đầu tư, tự mình tạo ra các tài sản (bằng cách tài trợ những nhà phát minh), và mua lại tài sản từ những người gặp rắc rối trong việc muốn tự thân kiếm tiền một cách hiệu quả nhờ những tài sản đó. Chúng tôi rất tích cực quản lý các tài sản này để tối đa hóa giá trị của chúng và sau đó cung cấp lối thoát hàng nhằm hiện thực hóa lợi nhuận.
650 nhân viên của chúng tôi bao gồm nhiều nhà khoa học và kĩ sư, những nhà phân tích bằng sáng chế và uỷ viên, chuyên gia tài chính và các đại lý bán cấp phép bản quyền. Để kêu gọi vốn, chúng tôi có một nhóm phụ trách mảng quan hệ nhà đầu tư. Nhóm đưa ra ý tưởng của chúng tôi liên tục tìm hiểu các xu hướng phát triển công nghệ và các khám phá khoa học mới để xác định những cơ hội tốt nhất cho các khoản đầu tư. Những kết luận đưa ra bởi nhóm này có tác dụng định hướng cho ba nhóm riêng biệt khác. Nhóm phát triển sáng chế nội bộ là nhóm đầu tiên; bao gồm 300 nhân sự là các nhà phát minh (gồm cả bản thân tôi) và một đội ngũ hơn 100 nhà cố vấn phát minh tuyệt vời khác làm việc bán thời gian. Nhóm thứ hai là mạng lưới nhà phát minh bên ngoài gồm hơn 1,000 người ở 7 quốc gia khác nhau. Nhóm cuối cùng của chúng tôi chuyên đi thâu tóm các bằng sáng chế hiện hành hoặc đặt cọc vào chúng.

Tạo ra các sáng chế từ trang giấy trắng

Tôi và Edward Jung, một đồng nghiệp tại Microsoft hiện là giám đốc kĩ thuật của của công ty chúng tôi, đã đồng sáng lập nên Intellectual Ventures. Vì bản thân cũng là những nhà phát minh nên chúng tôi cực kì hứng thú tìm kiếm nhiều các hiệu quả khác nhau để tạo nên các sáng tạo chất lượng cao. Chúng tôi muốn xây dựng một công ty tương tự như phòng thí nghiệm hiệu suất cao của Thomas Edison. Ông ấy đã phát minh ra kiểu quỹ gọi vốn sáng chế bằng cách hứa hẹn cung cấp cho những nhà đầu tư một số lượng nhất định bản quyền sáng chế hàng năm. Tuy vậy, vẫn có một sự khác biệt lớn. Edison xây dựng phòng thí nghiệm của mình chỉ xoay quanh duy nhất một nhân vật: chính ông ấy. Rất nhiều thiên tài của thế kỉ 19 đã làm việc ở phòng thí nghiệm của Edison nhưng không được lâu. Chúng tôi đang cố gắng kiến tạo nên một công ty phát minh có tầm phát triển mà không phải phụ thuộc vào bất kì một cá nhân đơn lẻ nào. Lí do không chỉ bởi chúng tôi muốn công ty của mình tạo ra nhiều hơn nữa các phát minh trong các lĩnh vực hơn cả phòng thí nghiệm Edison từng làm được. Đó là còn bởi chúng tôi tin rằng vấn đề phức tạp của ngày hôm nay có thể được giải quyết bằng cách đưa những tài năng từ các ngành khác nhau, tập trung lại để xử lí rắc rối theo một cách có hệ thống.

Theo cách này, chúng tôi đã thuê các nhà khoa học và kĩ sư hiện đang nắm giữ những kỉ lục ấn tượng về sáng chế trên nhiều lĩnh vực công nghệ. Chúng tôi cũng đã tuyển các nhà nghiên cứu tầm cỡ thế giới về học thuật và công nghệp về làm các nhà cố vấn phát minh. Điều này tạo cho chúng tôi năng lực cống hiến mạnh mẽ trong khoảng 50 lĩnh vực công nghệ, từ thiết bị y tế, phần mềm, điện tử tiêu dùng đến công nghệ hạt nhân.

Ví dụ, một nhóm thông thường bao gồm khoảng 10 nhà phát minh là các nhà vật lí học, bác sĩ giải phẫu, nhà hoá học, vài lập trình viên, một chuyên gia hình ảnh kĩ thuật số và các kĩ sư. Không cần phải nói, những người này không chỉ đơn thuần làm việc cùng nhau. Chúng tôi tổ chức các phiên họp nhằm tập trung các đội vào việc xử lí những vấn đề cụ thể (giả dụ như làm giảm tỉ lệ nhiễm trùng tại bệnh viện) hoặc yêu cầu họ động não xem những khám phá khoa học mới (như là siêu vật liệu với các thuộc tính điện từ không tìm thấy trong tự nhiên) có thể áp dụng như thế nào để giải quyết nhiều vấn đề trong thế giới thực.

Lối tiếp cận liên ngành này đạt được hiệu quả rõ rệt trong việc tạo ra những phương pháp sáng tạo, nhằm giải quyết các vấn đề khó nhằn. Lấy ví dụ, gần đây chúng tôi đang thử nghiệm những cách mới để chống lại dịch tiêu chảy, thứ dịch bệnh hàng năm làm hàng trăm triệu người mắc và gần một triệu trẻ em thiệt mạng. Các phiên họp của chúng tôi – với sự góp mặt của các nhà sinh học, chuyên gia máy tính, vật lí học, dịch tễ học và nhiều chuyên gia khác – đã đề xuất được nhiều cách tiếp cận hứa hẹn. Một ví dụ là hệ thống kiểm soát sâu bọ, dịch hại. Hệ thống này được gợi cảm hứng từ công nghệ quân sự vốn sử dụng để bắn chặn tên lửa đạn đạo. (Vài nhà sáng chế của chúng tôi là các giám đốc khoa học trong dự án “Star Wars”). Hệ thống này sử dụng những chiếc máy tính, máy quay và bộ quét laze giá rẻ và tiêu thụ ít năng lượng để xác định những con muỗi cái (muỗi đực không mang theo mầm bệnh), lần theo đường bay của chúng, và thiêu cháy chúng bằng một bước xung ánh sáng. Việc đó lúc đầu nghe tưởng chừng còn xa mới làm được, nhưng chúng tôi đã làm ra một phiên bản mẫu trong phòng thí nghiệm, và nó đã hoạt động. Một cách tiếp cận tương tự có thể sử dụng để  bảo vệ cây trồng, mùa màng hoặc thậm chí con người ở sân nướng thịt sau nhà khỏi các loài côn trùng có hại.


Một chuỗi các phiên họp được tổ chức đã mang các nhà giải phẫu tim, lồng ngực, xương và não uy tín hàng đầu ngồi lại với nhau cùng nhiều nhà sáng chế khác của chúng tôi. Chúng tôi đề nghị các bác sĩ phác thảo nên một bản “sẽ chẳng phải tuyệt hơn sao nếu có …,” hoặc WIBGI, danh sách các điều ước công nghệ. Danh sách đó đã tạo ra nhiều thảo luận với năng suất khác thường. Chúng tôi đến với những thiết kế mới cho nhiều công cụ giải phẫu tự khử trùng hoặc loại có thể luồn lách quanh những khu vực nhạy cảm của bộ não hơn là xuyên thẳng qua đó. Chúng tôi sáng tạo ra những cách mới lạ nhằm chế tạo ra các thiết bị cấy ghép có thể phân phối thuốc một cách thông minh vào đúng chỗ, kịp thời cho những khu vực cần thiết trong cơ thể; các ống hút thông minh để hút dịch thừa, có thể phát tín hiệu khi bị tắc hoặc tự nó làm sạch; các loại vít bắt vào xương có thể điều chỉnh từ xa, dùng nguồn năng lượng không dây; và một thiết bị cấy ghép tí hon có thể tự động theo dõi lượng đường glucose trong máu của bệnh nhân tiểu đường. Không tệ chút nào với chỉ vài tuần làm việc.

0 Response to "NGÀNH CÔNG NGHIỆP CẤP VỐN Ở HOA KỲ - Nathan Myhrvold - Kỳ 2"

Đăng nhận xét

Xem nhiều nhất

Xem nhiều nhất trong tháng