Nguyên
Tắc Làm việc
Tại
sao mà các công ty không chú trọng vào tối đa hoá giá trị cổ đông lại thu được
lợi nhuận ấn tượng đến vậy?
Bởi vì CEO của họ được tự do tập trung cho xây dựng
việc kinh doanh thực thụ, hơn là đối phó với những kì vọng của cổ đông. Khi
A.G. Lafley được bổ nhiệm làm CEO điều hành P&G, ông ấy tỏ ra khá thoải mái,
trong bối cảnh văn hoá của P&G, khi nói với cổ đông rằng mọi thứ sẽ tiếp tục
tồi tệ hơn trong tương lai gần, bởi tập đoàn cần phải sửa sang lại một cơ số những
nền tảng chính trong công việc kinh doanh của họ, và việc đó sẽ mất nhiều thời
gian. Hầu hết các CEO sẽ chần chừ gửi đi thông điệp kiểu đó tới phố Wall, và họ
sẽ cố triển khai sửa chữa đối phó sao cho thật nhanh, hơn là quan tâm đến ý
nghĩa thực sự của công việc đó. Và hầu hết mọi ban giám đốc đều không khuyến
khích, nếu không thẳng thừng cấm đoán việc truyền những thông tin đó đến tai cổ
đông.
Có lẽ
dấu hiệu đáng chú ý nhất cho vị thế mới của cổ đông ở P&G là quyết định cho
gỡ bỏ các màn hình theo dõi giá cổ phiếu ở trụ sở tập đoàn của Lafley. Các CEO
tiền nhiệm lắp đặt những màn hình này khắp các văn phòng nhằm khuyến khích nhân
viên tập trung vào việc tạo ra giá trị cho cổ đông. Lafley không phải người duy
nhất nhận ra tầm quan trọng của những hành động mang tính biểu trưng như vậy.
Research in Motion, công ty đã làm BlackBerry trở nên phổ biến, cũng thực hiện
điều tương tự. (Xem phần lề bên “Bánh rán và BlackBerry.”)
Bánh
rán và BlackBerry (Phần lề bên)
Research
in Motion (RIM), công ty chế tạo nên chiếc BlackBerry phổ biến, đã chịu trả giá
để bày tỏ sự xa lánh của mình khỏi nguyên tắc giá trị cổ đông. Quay về năm
1997, sau khi công ty tiến hành IPO, các nhà sáng lập đưa ra quy định bất cứ quản
lí nào nói chuyện về giá cổ phiếu ở công sở sẽ phải mua cho mỗi người trong
công ty một chiếc bánh rán. Việc vi phạm mới đầu cũng không ăn nhằm gì lắm đối
với ai lỡ mồm. Song khi công ty bắt đầu phát triển, chuyện lại hoàn toàn khác.
Vào năm 2001, giám đốc vận hành của công ty để cập đến chuyện giá cổ phiếu RIM
đang tăng mạnh với các nhà phân tích. Và thế là ông ấy đã bị buộc phải chuyển
800 chiếc bánh rán tới buổi họp mặt nhân viên hàng tuần sắp tới. Thậm chí, ông
này còn phải sắp xếp những thoả thuận đặc biệt với các cửa hàng bánh rán trong
vùng để lấy đủ số lượng. Vụ việc đó rõ ràng đã in hằn nguyên tắc bánh rán vào
trong đầu của các quản lí tại RIM. Từ đó đến giờ, chưa vụ vi phạm nào được ghi
nhận.
Các
khoản bồi thường là một khác biệt then chốt khác. Khi các công ty không vặn
mình theo chiều hướng gia tăng giá trị cho cổ đông, ban lãnh đạo của họ nói
chung sẽ không làm phân tâm các CEO với các gói đãi ngộ bằng cổ phiếu – được tập
trung trong ngắn hạn và hiện thực hoá lúc về hưu. Những phần thưởng trong ngắn
hạn khuyến khích các CEO tìm cách xoay vần với những kì vọng ngắn hạn, hơn là
thúc đẩy quá trình phát triển thật sự. Và khoản tiền thưởng được treo ra vào thời
điểm nghỉ hưu chỉ có tác dụng đưa CEO về đúng vạch đích. Như một vận động viên
marathon, nếu công ty sụp đổ xuống tận gốc sau vạch đích đó, thì đấy là vấn đề
của người khác. Chỉ cần chú ý tới biểu đồ lịch sử giá cổ phiếu của GE, là sẽ rõ
tác động của khoản đãi ngộ bằng cổ phiếu dành cho Welch. Rõ ràng là người kế
nhiệm của Welch, Jeff Immelt, đã thừa kế một công ty đang hứng chịu những vấn đề
kinh điển gắn liền với sự ấn định vào vạch đích. Cho dù nếu Immelt có tài quản
trị xuất sắc, ông ấy vẫn có rất ít cơ hội để đưa giá trị cổ đông quay về điểm
xuất phát khi ông mới lên nắm quyền.
Ngược
lại, cơ cấu gói đãi ngộ của Lafley ở P&G thể hiện bản chất một công ty với
văn hoá tối đa hoá sự thoả mãn của khách hàng. Xấp xỉ 90% giá trị gói đãi ngộ của
ông ấy ở dưới dạng quyền chọn cổ phiếu hoặc cổ phiếu hạn chế. Mặc dù không còn
quá xa lạ với giới CEO hiện nay, các tuỳ chọn cổ phiếu này có thời gian trao quyền
đặc biệt lâu – trong 3 năm – và 2 năm nắm giữ bắt buộc sau đó. Lafley lựa chọn
việc giữ các cổ phiếu này trong thời gian lâu gấp đôi yêu cầu và chỉ bán ra số
lượng có giới hạn dưới kiểm soát của các chương trình bán cổ phiếu theo kế hoạch.
Đối với loại cổ phiếu hạn chế, chiếm phần lớn gói đãi ngộ của Lafley, này thì
việc trao trả đủ quyền không bao giờ diễn ra trước khi hoặc thậm chí là tại thời
điểm CEO nghỉ hưu cả. Thời gian trao quyền sẽ bắt đầu một năm sau khi nghỉ hưu
và sẽ trải dài ra trong suốt 10 năm. Bất chấp việc Lafley xoay sở thế nào để
đưa đưa kì vọng cổ đông lên đỉnh, để rồi sau đó kì vọng đó lại tụt dốc, người bị
thiệt hại sẽ vẫn bao gồm chính ông. Do đó, trong cả nhiệm kì CEO của mình, ông ấy
có tất cả động lực để xây dựng công việc kinh doanh hướng tới chặng đường rất
dài phía trước, chuẩn bị cho việc đưa một CEO xuất sắc khác lên nắm quyền, và để
P&G lại trong tình trạng tuyệt vời.
Rất
nhiều nhà điều hành sẽ coi gói đãi ngộ mà Lafley nhận là ngoại lệ với lí lẽ rằng
quyền lợi của họ sẽ bị ảnh hưởng do sai lầm của các CEO kế nhiệm. Đây là lúc vấn
đề văn hoá vào cuộc. Hệ thống đãi ngộ của P&G thực sự tỏ ra bất công trong
một nền văn hoá đãi ngộ bằng cổ phiếu và tập trung vào lợi ích ngắn hạn như thế
này, nơi mà triết lí “mạnh ai nấy sống” rất thịnh hành. Tuy nhiên, trong một nền
văn hoá hướng tới phục vụ khách hàng, cơ cấu gói đãi ngộ như kiểu của Hafley lại
hợp lí hơn rất nhiều và không khó để triển khai chút nào. Nó sẽ củng cố lại những
hành vi quyết định việc xây dựng nên giá trị thực sự trong dài hạn.
Cả
khi việc tối đa hoá giá trị cho khách hàng là mục tiêu chính, khi nền văn hoá
đó là chuẩn mực, và các gói đãi ngộ bằng cổ phiếu có thời gian trao quyền cực
kì lâu, thì nhu cầu tối đa hoá giá trị của cổ đông vẫn hiển hiện. Ở P&G,
Lafley thừa hưởng cả một hệ thống đãi ngộ lâu đời, gắn chặt các khoản tiền thưởng
dành cho những lãnh đạo cấp cao vào tổng lợi nhuận của cổ đông (total share
holder-TSR). Những khoản tiền thưởng này được xác định bởi phần gia tăng trong
giá cổ phiếu công ty với cổ tức (nếu được tái đầu tư vào cổ phiếu) trong khoảng
thời gian 3 năm. Dưới hệ thống này, TSR của P&G được lấy làm chuẩn so với
các chỉ số TSR của các công ty khác trong cùng một nhóm. Nếu TSR của công ty nằm
ở nửa trên của nhóm, thì các nhà điều hành sẽ nhận khoản thưởng.
Tuy
nhiên, Lafley nhanh chóng nhận ra rằng theo sau một năm có chỉ số TSR tốt thường
là một năm ảm đạm; bởi tổng lợi nhuận của cổ đông được thúc đẩy bởi sự đi lên mạnh
mẽ của những kì vọng. Điều đơn thuần không thể nào lặp lại ở năm tiếp theo. Ông
ấy cũng thấy rằng việc gia tăng giá trị cho cổ đông có rất ít liên quan tới hiệu
quả thật sự của công việc kinh doanh và liên quan rất nhiều tới trí tưởng tượng
phong phú của các cổ đông, những người đang toan tính xem số phận của công ty
trong tương lai sẽ thế nào. Thấu hiểu điều này, Lafley đã thúc giục chuyển đổi
thước đo tiền thưởng từ TSR sang một thứ khác gọi là TSR vận hành. Thước đo mới
này dựa trên sự kết hợp của 3 cách đo khả năng vận hành thực sự của công ty –
tăng trưởng doanh số, tăng trưởng lợi nhuận biên và gia tăng hiệu quả dùng vốn.
Niềm tin của Lafley là nếu P&G làm thoả mãn khách hàng của mình, TSR vận
hành sẽ tăng lên, và giá cổ phiếu sẽ tự nó làm việc của mình trong dài hạn. Hơn
thế nữa, TSR vận hành là một con số mà các lãnh đạo các đơn vị kinh doanh trực
thuộc P&G có thể thực sự chi phối, không giống như đối với những con số TSR
đưa ra dựa vào thị trường.
Tất nhiên,
không phải tất cả các công ty đặt sự thoả mãn của khách hàng lên đầu cũng sẽ trở
thành P&G hoặc J&J. Nhưng tôi tin tưởng chắc chắn rằng nếu nhiều hơn nữa
các công ty coi khách hàng là ưu tiên số một, thì chất lượng các quyết định
đoàn thể đưa ra sẽ được cải thiện, bởi suy nghĩ về khách hàng sẽ buộc công ty
phải tập trung cải thiện khả năng vận hành và dịch vụ, sản phẩm mà mình cung cấp,
hơn là xoắn xuýt vào vấn đề của cổ đông. Điều này không có nghĩa là các công ty
sẽ đánh mất những nguyên tắc về chi phí; động cơ lợi nhuận sẽ không mất đi. Các
nhà quản lí thích các khoản lợi nhuận hệt như cổ đông vậy, bởi vì công ty càng
kiếm được nhiều lợi nhuận, số tiền chi trả cho họ càng nhiều. Nói cách khác,
nhu cầu làm cho giá cổ phiếu tăng trưởng là một áp lực tự nhiên đè lên bất cứ mục
tiêu nào bạn thiết lập. Thế nhưng, việc biến nó thành mục tiêu trọng tâm sẽ tạo
nên cám dỗ sẵn sàng đánh đổi những lợi ích dài hạn trong giá trị vận hành, cho
những lợi ích tạm thời của giá trị kì vọng. Để khiến các CEO tập trung vào
khách hàng, chúng ta cần phải nhìn nhận lại mục tiêu của công ty.
Các
quy tắc kế toán có phải một phần của vấn đề không? (Đây là phần lề bên)
Học
thuyết về tối đa hoá giá trị cho cổ đông thực ra được gắn vào với các quy tắc
quản lí báo cáo tài chính ở Hoa Kì. Vào tháng 6, 2001, Uỷ ban Kế toán Tài chính
và Tiêu chuẩn (Financial Accounting and Standards Board – FASB) ban hành Điều
142, làm thay đổi cách các kiểm toán viên xem xét những tài sản vô hình và sự
tín nhiệm của khách hàng.
Trước
đây, các công ty phải giảm bớt giá trị sổ sách của tài sản vô hình và sự tín
nhiệm của khách hàng, theo những khoản khấu trừ dần cố định theo lịch trình. Điều
142 đã chấm dứt hành động này và bắt buộc các kiểm toán viên thay vào đó phải
công bố các tài sản vô hình và sự tín nhiệm của khách hàng có bị “sứt mẻ” hoặc
vẫn giữ nguyên giá trị. Nếu những tài sản đó bị sụt giảm, kiểm toán viên phải hạ
giá trị sổ sách những tài sản này xuống theo giá trị thị trường hiện hành. Để
xác định xem một tài sản có sụt giảm giá trị hay không, các hãng kiểm toán so
sánh những tính toán của họ đối với giá trị các dòng tiền chiết khấu trong
tương lai của một công ty với giá trị hiện tại của cổ đông – được xác định bởi
giá cổ phiếu. Nếu quan sát thấy giá trị của cổ đông ở mức quá thấp tương quan với
dòng tiền chiết khấu dự kiến, kiểm toán viên sẽ phải giảm bớt giá trị sổ sách
các tài sản của công ty xuống.
Hậu
quả là những CEO nào thất bại trong việc xoay vần với những kì vọng ngày càng mạo
hiểm của cổ đông, sẽ làm phải giảm bớt khá nhiều giá trị sổ sách các tài sản của
công ty họ. Khi được công bố, đều này rất có thể sẽ kích hoạt một vòng xoáy đi
xuống sâu hơn nữa cuả các kì vọng và giá trị sổ sách cũng bị cuốn theo đà đi xuống
đó.

0 Response to "THỜI ĐẠI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN KHÁCH HÀNG - Roger Martin - Kỳ 3 (Kết thúc)"
Đăng nhận xét