Dịch giả: Nguyễn Phan Quỳnh
Trang - Đại học Coventry, Lodon Campus
Tác giả: Donald Sull - là giáo
sư và giám đốc điều hành giáo dục tại Trường Kinh Doanh London. Cuốn sách gần
đây nhất của ông là The Upside of
Turbulence (HarperCollins, 2009), một số ý tưởng trong cuốn sách đó đã được
đưa ra đề cập trong bài viết này.
Trước suy thoái, rất nhiều công ty đã phụ thuộc
vào những thế mạnh kinh tế vĩ mô trong giai đoạn bùng nổ ví dụ như lãi suất thấp,
nguồn vốn sẵn sàng hay sự tự tin của người tiêu dùng… để phát triển gia tăng lợi
nhuận. Điều này dẫn đến việc tổ chức trở nên phản ứng chậm đối với nền kinh tế,
những nguồn lực cần thiết cho những hành động cấp thiết dần biến mất. Tuy
nhiên, tại thời điểm hiện tại, khi chính phủ can thiệp vào nhiều lĩnh vực hơn
trong nền kinh tế thì các công ty đang phải đối mặt với những điều kiện kinh tế
thị trường khắc nghiệt hơn cùng với những yếu tố quan trọng không thể bỏ qua
xung quanh đó, lạm phát hay giảm phát, tỷ giá hối đoái, và các luật lệ. Và tất
nhiên, những nguồn gốc thông thường cho sự bất ổn của thị trường – địa chính trị,
đổi mới công nghệ, và động lực cạnh tranh – vẫn tồn tại.
Vì các công ty đang dần dần bước ra khỏi cuộc
suy thoái, các nhà lãnh đạo, thay vì viết ra một chiến lược “hoàn hảo” và tự
tin rằng thị trường sẽ hợp tác với mình, cần phải hoạch định một định hướng chiến
lược rộng lớn nhưng vẫn duy trì mở cho những cơ hội ngoài dự đoán có thể xuất
hiện cùng lúc đó. Và hơn hết, làm thế nào để các nhà lãnh đạo đánh giá được liệu
là tổ chức của họ có thể phù hợp cho một môi trường kinh doanh mới hay không?
Sau 10 năm nghiên cứu hoạt động trong các công ty ở một số thị trường phát triển
nhanh nhất thế giới ví dụ như Trung Quốc và Brazil, và ở các ngành công nghiệp
khốc liệt nhất như tài chính và thời trang, tác giả Donald Sull đã phát hiện ra
những chướng ngại vật phổ biến làm ảnh hưởng đến năng lực của công ty trong việc
thực hiện những chiến lược đã được hoạch định của họ và cản trở việc nắm bắt lợi
ích từ những cơ hội ngoài dự đoán. Ông đã đưa ra bảy câu hỏi sau có thể giúp
các nhà quản lý có thể đánh giá một cách nhanh chóng liệu công ty của họ đã sẵn
sàng cho một cú bật hay chưa:
1. Bạn
có để lỡ những cơ hội mà các công ty khác đã nhận ra?
2. Liệu
bộ máy lãnh đạo có vấn đề?
3. Bạn có thưởng cho toàn bộ số đông và gọi nó là “teamwork”?
4. Giá
trị cốt lõi của công ty bạn liệu có phải là một trò đùa?
5. Bạn
có đang thảo luận về những điều thật sự cần thiết?
6. Liệu
có phải các chiến binh của bạn đã biến thành những người nông dân rồi không?
7. Bạn
đang hoạt động dựa trên lối lãnh đạo anh hùng? (heroic leadership)
Thực chất, việc trả lời bảy câu hỏi trên là để
đánh giá khả năng nắm bắt cơ hội, các vấn đề về tổ chức bộ máy, phương thức
lãnh đạo và quản lý con người của công ty. Việc nắm bắt cơ hội có một ảnh hưởng
rất lớn đến năng lực cạnh tranh của công ty, nhưng điều quan trọng là các công
ty cần phải biết nên đầu tư như thế nào để có thể tối đa hóa khả năng nắm bắt
cơ hội của mình. Có rất nhiều công ty dành những khoản tiền lớn đầu tư vào những
hệ thống công nghệ thông tin tinh vi để đánh giá được những thông tin thị trường
phức tạp nhưng vẫn để bị mất thị phần vào các công ty khác. Đối với đầu tư công
nghệ thông tin, cốt lõi không phải ở số tiền mà bạn bỏ ra, mà là bạn sử dụng số
tiền đó như thế nào. Để định vị được những khoảng trống trên thị trường, các
công ty cần những số liệu thực tế và khả năng để chia sẻ tất cả những số liệu
đó trong toàn bộ tổ chức. Những số liệu đó cần phải được thu thập và giám sát
trực tiếp ngay tại nơi hoạt động. Việc giám sát và thu thập thông tin ngay lập
tức khi có vấn đề xảy ra có thể giúp cho nhân viên của công ty phản ứng lại
nhanh chóng và tìm ra giải pháp cân bằng để biến thất bại thành thành công ngay
sau đó. (Xem thêm phần ví dụ về Tập đoàn bán lẻ Tây Ban Nha Zara).
Về vấn đề bộ máy tổ chức và quản lý con người,
chúng ta đang ở trong tình trạng có quá nhiều lãnh đạo, nhưng lại không có đủ
các nhà quản lý. Cuộc bùng nổ kinh tế mới kết thúc gần đây thực sự trở thành một
thời đại của tôn thờ lãnh đạo. Những quản lý cấp trung muốn vươn lên trở thành
lãnh đạo – thường hay coi thường và lơ là gốc rễ và những điều chi tiết nằm
trong quản lý chung. Tất nhiên là không có gì sai với bộ phận lãnh đạo, nhưng
việc tập trung phát triển các tài năng quản lý chung với mong muốn đạt được chiến
thắng trên thị trường bằng một cách cao siêu nào đó thực sự không khác gì cách
đẩy công ty vào chỗ chết. Những giám đốc điều hành trải qua hết những cuộc khủng
hoảng này đến khủng hoảng khác chính là dấu hiệu cho sự yếu kém về tổ chức chứ
không phải là sức mạnh lãnh đạo. Cuộc khủng hoảng kinh tế đã bắt nhiều nhà lãnh
đạo luôn phải tìm đến những giải pháp tình thế mà quên đi nền văn hóa và giá trị
cốt lõi của doanh nghiệp. Khi theo đuổi các mục tiêu tài chính hay lợi nhuận,
các nhà lãnh đạo vẫn phải lưu ý duy trì những nguyên tắc và giá trị cốt lõi của
công ty. Thực sự nhiều nhà quản lý chung đôi khi không biết họ nên làm thế nào,
bởi vì họ được cất nhắc từ những vị trí chuyên môn đặc biệt khác. Những nhà
thương mại được thăng chức để điều hành ngân hàng, những kĩ sư lại quản lý các
công ty về công nghê, luật sư chịu trách nhiệm điều hành công ty luật… Họ làm
việc tốt ở chuyên môn của họ, và như một phần thưởng, họ được cất nhắc để làm một
công việc quản lý – một công việc hoàn toàn khác – công việc mà họ sẽ dễ dàng mắc
phải sai lầm.
Bên cạnh đó, nhiều nhân viên than phiền rằng
các nhà quản lý đang dành quá nhiều thời gian vào việc thảo luận mà không biến
lời nói thành hiện thực. Họ dành đến ¾ thời gian của mình cho việc thảo luận –
những cuộc họp, điện thoại hay trao đổi email…Vì vậy, việc hoạt động của tổ chức
lại phụ thuộc vào việc những người quản lý đó sẽ quản lý như thế nào, có thể
lãnh đạo để biến những cuộc thảo luận đó thành hành động hay không. Hoạt động của
tổ chức cần có bốn dạng đối thoại cơ bản: tìm ra bản chất của tình hình biến động;
quyết định những gì phải làm, không làm, hoặc ngừng làm; trưng cầu và giám sát
các cam kết để điều phối; và những thay đổi cần thiết ở giữa giai đoạn. Tuy
nhiên các nhà lãnh đạo giỏi ở một dạng đối thoại nào đó sẽ lại gặp khó khăn
trong việc giao tiếp bằng những phương thức ở ngoài vùng an toàn của họ. Ví dụ,
một chuyên gia chiến lược có thể sử dụng trí tuệ của mình một cách tốt nhất để
xây dựng nên chiến lược, nhưng lại gặp khó khăn trong việc theo dõi và quản lý
công tác thực hiện chiến lược đó. Vì vậy các nhà quản lý cần phải học cách
thích ứng với từng dạng thảo luận và đảm bảo chắc chắn rằng nhóm của họ đang thảo
luận những gì thực sự cần thiết trong thời điểm đó, và tất nhiên, không thể bỏ
qua những cuộc thảo luận với tư duy phản biện.
Một vấn đề trong việc quản lý con người mà một
số nhà lãnh đạo hay mắc phải, đó là họ thưởng cho toàn bộ số đông và cho rằng
đó là “teamwork”. Không có sự khác biệt nhiều giữa
những khoản thưởng dành cho những nhân viên top và những nhân viên làm việc kém
hiệu quả, bởi vì các nhà lãnh đạo lo lắng rằng việc trả các mức lương thưởng
khác nhau sẽ ảnh hưởng xấu đến sự hợp tác và suy nghĩ lâu dài. Điều này là hoàn
toàn sai lầm. Các công ty nên có những mức thưởng lớn cho những cá nhân xuất sắc,
những người đã hoàn thành tốt những gì họ nói. Việc này không chỉ đảm bảo hoạt
động của công ty mà còn thu hút và duy trì được những nhân viên có nhiệt huyết
và khuyến khích họ thực hiện những công việc đang được ưu tiên hiện tại. Sẽ có
thể có những rủi ro nếu cứ dựa vào mức thưởng để duy trì công việc nhưng các
giám đốc điều hành có thể kết hợp những khoản thưởng lớn cho hiệu quả công việc ngắn hạn với những
khoản đền bù xứng đáng dựa trên hiệu quả hoạt động dài hạn của công ty. Lối quản
lý an toàn trong một thời gian dài cũng chính là lý do đã biến những chiến binh
trong công ty trở thành những người nông dân – chỉ tập trung để bảo vệ những gì
họ đang có mà không dám chấp nhận thử thách đến với những cơ hội mới. Với một
doanh nghiệp đã phát triển, các nhà lãnh đạo thường có xu hướng bỏ qua những thử
thách mới và chọn một con đường an toàn cho tổ chức của mình. Các nhân viên mới
gia nhập công ty bởi vì sự ổn định của nó, chứ không phải để sẵn sàng đương đầu
với thử thách. Tất nhiên, một công ty cần phải có những người thực thi để giúp
cho công ty hoạt động, nhưng công ty với quá ít những nhân viên được coi như
các chiến binh chắc chắn sẽ gặp khó khăn để ứng phó trong những tình huống khẩn
cấp. Chính vì vậy, các công ty cần phải có những chương trình đào tạo để thu
hút những ứng viên tốt và sáng giá nhất, để luôn luôn sẵn sàng cho việc mở rộng
công ty và nắm bắt cơ hội bất cứ lúc nào. Những nhân tố này sẽ là những chiến
binh gây áp lực liên túc lên những nhà quản lý – những người mà có thể đang rơi
vào sự thoải mái trong việc điều hành các hoạt động đều đều của công ty hằng
ngày.
Hơn bao giờ hết, đây là thời điểm các công ty cần
một sự nhạy bén trong việc nhận biết và nắm bắt được những cơ hội ngoài dự đoán
trước các đối thủ của mình. Để làm được điều đó, ngoài những bản báo cáo với
thông tin thực tế và sát sao, các công ty cần phải xây dựng lại một bộ máy lãnh
đạo mạnh mẽ, với những cuộc tranh luận đủ và cần thiết, đảm bảo chắc chắn mọi
hoạt động và phương pháp xử lý tình huống của công ty vẫn được dựa trên văn hóa
và giá trị cốt lõi của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các nhà lãnh đạo luôn luôn phải
có sự khuyến khích và tạo động lực cho nhân viên của mình tập trung vào không
chỉ những nhiệm vụ ngắn han mà còn cả những mục tiêu dài hạn. Và một điều không
thể thiếu đó là áp lực cho những thử thách mới. Những áp lực vừa phải sẽ luôn
có hiệu quả hơn những tình huống đối phó khẩn cấp. Cũng chính những áp lực này
sẽ là yếu tố quan trọng để giữ chân được những nhà quản lý mạo hiểm, nhiệt huyết
và linh động ở những vị trí chủ chốt – những nhân tố quyết định cho sự sống còn
của công ty.
[Phụ chú:
Tập đoàn bán lẻ Tây Ban Nha Zara]
Doanh nghiệp bán lẻ Tây Ban Nha Zara được biết
đến như một doanh nghiệp với chuỗi cung ứng sản phẩm linh hoạt nhất trên thị
trường thời trang thế giới, nhanh chóng nhận biết được những xu hướng thay đổi
liên tục của khách hàng. Những nhà thiết kế, quản lý marketing và người mua
luôn hoạt động song song và đồng hành với trụ sở chính. Với những kế hoạch mở
khuyến khích những cuộc thảo luận thường xuyên và chia sẻ những thông tin thực
tế cũng như những quan sát tại nơi bán hàng. Bằng cách phân bố nhân viên với
nhiều nhiệm vụ khác nhau, Zara tạo điều kiện cho nhân viên của mình bước ra khỏi
vùng an toàn của mình và phát triển một cảm giác toàn diện đối với thị trường,
nhận biết xem họ sẽ làm việc thích hợp như thế nào, và có những cảm nhận đối với
những cơ hội mới đang hình thành.
Ví dụ như vào mùa hè năm 2007, Zara đã cho ra
đời chuỗi sản phẩm quần áo slim-fit, bao gồm váy bút chì và quần jeans ống đứng
dựa vào xu hướng thời trang trên sàn catwalk và những gì mà người nổi tiếng
đang mặc. Giám đốc marketing dự đoán rằng sẽ có một cuộc bùng nổ bán hàng đối với
những sản phẩm này, tuy nhiên số liệu hằng ngày cho thấy những sản phẩm này vẫn
đang tồn đọng. Do đó, Các quản lý Marketing của Zara đã ngay lập tức tới các cửa
hàng để kiểm tra xem điều gì đang xảy ra. Họ nói chuyện với quản lý, nhân viên
và khách hàng, rồi họ nhanh chóng nhận ra rằng phái nữ tương đối thích dòng sản
phẩm này, nhưng họ gặp khó khăn trong phòng thử đồ vì dường như nó không đúng với
size mà họ đang mặc. Zara đã ngay lập tức thu hồi toàn bộ số sản phẩm đó và gán
nhãn lại cho chúng một size nhỏ hơn. Ngay sau đó, công ty đã chứng kiến một cuộc
bùng nổ doanh số vì các khách hàng thực sự rất vui và vừa ý với dòng sản phẩm
này.
Bản đầy đủ: "Are you ready to rebound?" của Donald Sull, Tạp chí Kinh doanh Harvard, số tháng Ba, năm 2010.
Bản đầy đủ: "Are you ready to rebound?" của Donald Sull, Tạp chí Kinh doanh Harvard, số tháng Ba, năm 2010.

0 Response to "BẠN ĐÃ SẴN SÀNG CHO MỘT CÚ BẬT?"
Đăng nhận xét